Hiển thị các bài đăng có nhãn đường chim bay không dấu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đường chim bay không dấu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 26 tháng 5, 2021

TỰ NGÃ (ATTA) TRONG KINH PALI

 

 

 

 

 

TỰ NGÃ

trong

 

KINH PALI

 

]

 

Minh Tuệ Đỗ Minh

 

 

 

 

 TỰ NGÃ TRONG KINH  PALI

Nếu chúng ta hỏi “Có Tự Ngã không?” thì có lẽ 99% những người theo đạo Phật sẽ trả lời là “Không” chắc nịch!

Điều này cũng dễ hiểu vì ai học Phật cũng biết một điều rất căn bản là: Ngũ Uẩn là vô thường, khổ  và vô ngã. Nói rộng hơn là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức này là vô thường, khổ, vô ngã.

Có lẽ chữ “vô ngã” thường được hiểu là “không có tự ngã” nên ai nói rằng “có tự ngã” thì đương nhiên là người ấy nói sai.

Trong khi đó, ý nghĩa của “vô ngã” này trong rất nhiều bài kinh Phật đều là “không phải là ta, không phải là của ta, không phải là tự ngã của ta”. (netam mama, neso hamasmi, na meso atta’ti). Mở rộng hơn nữa thì đó chính là: Ngũ uẩn này vốn “không phải là ta THẬT, không phải là của ta THẬT, không phải là tự ngã THẬT của ta”

Vậy thì “Cái gì THẬT là ta, cái gì THẬT là của ta, cái gì THẬT là tự ngã của ta”?

Và cũng với cách hiểu “không có tự ngã” phổ biến như trên thì chắc chắn câu trả lời sẽ là:

“Chẳng có gì thật là ta cả, chẳng có gì thật là của ta cả, chẳng có gì thật là tự ngã của ta cả”

-------------

Đức Phật có bao giờ nói về “tự ngã” không?

Chúng ta hãy cùng nghe lại một số câu kinh trong Kinh Pháp Cú, phẩm Tự Ngã:

 

Ai biết yêu tự ngã

Phải khéo bảo vệ mình

Người trí trong ba canh

Phải luôn luôn tỉnh thức (Pháp Cú 157)

 

Hay

 

Tự mình y chỉ mình

Không có y chỉ khác

Nhờ khéo điều phục mình

Được y chỉ khó được (Pháp Cú 160)

 

Nếu không có cái gì đó gọi là ‘tự ngã’, tại sao Phật lại bảo mình ‘yêu’?

Nếu không có cái gì đó gọi là ‘chính mình’, tại sao Phật lại khuyên mình phải khéo ‘bảo vệ’?

Nếu không có cái ‘tự ngã’ này, cái ‘chính mình’ này, tại sao Phật lại dạy ta phải ‘y chỉ’ vào nó?

Và qua những lời kinh này, chúng ta không thể nói rằng ‘không có tự ngã’ được, không có ‘chính mình’ được.

Vậy Atta – tự ngã – mà Phật bảo mình yêu quý, bảo vệ, y chỉ, nương tựa ấy là cái gì trong chúng ta?

----------------

Nếu chúng ta thấy được hai thực tại vô vi và hữu vi vốn hiện hữu bên trong mỗi chúng sanh thì có thể hiểu lời Phật như thế này:

- Atta (tự ngã) chỉ cho thực tại vô vi

- Anatta (không phải là tự ngã) chỉ cho thực tại hữu vi.

Mà ngũ uẩn hữ vi là anatta, là vô ngã (không phải là ta, không phải là của ta, không phải là tự ngã của ta) thì Atta ở đây là cái gì? Phải chăng là cái có khả năng biết được, quan sát được sự vân hành của ngũ uẩn sinh diệt, thấy biết được những hoạt động của tấm thân ngũ uẩn hữu vi này? Cái đó gọi là ‘ngoại uẩn’ (bahira-khandha) đồng nghĩa với Niết-bàn hay pháp vô vi.

Nếu ai đó nói rằng ‘ngũ uẩn này là ta, là atta’ thì đương nhiên là người đó nói sai. Nhưng nếu nói rằng Atta chính là Tâm Biết Vô Vi hay Pháp Ngoại Uẩn Niết-bàn thì chắc chắn rằng người ấy đã nói đúng!

-------

Bên cạnh những câu kinh Pháp Cú vừa mới đề cập ở trên, bây giờ chúng ta cùng đọc lại một lời kinh nổi tiếng khác mà ai cũng biết là:

"Hãy tự mình làm hòn đảo cho chính mình, làm ngọn đèn cho chính mình (atta-dipa viharatha), hãy tự mình y tựa chính mình (atta-sarana), chớ y tựa một cái gì khác. Dùng chánh pháp làm hòn đảo, làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm nơi nương tựa, chớ nương tựa một cái gì khác."

Vậy cái gì bên trong chúng ta có khả năng làm hòn đảo, làm ngọn đèn, làm chánh pháp để chúng ta có thể nương tựa vào nó?

Và chúng ta không thể không đồng ý rằng khái niệm Atta khi được Đức Phật sử dụng trong những kinh trên chính là muốn nói đến cái Tánh Biết Vô Vi hay bản thể thật sự bất tử, không sinh không diệt vốn có sẵn nơi mỗi chúng sanh.

Có phải Tâm Biết ấy cũng đồng nghĩa với Chân Tâm, Chân Ngã, Chân Tánh, Tự Tánh, Giác Tánh, bản Tâm, Tâm Nguồn mà chúng ta vẫn thường hay nghe hay không?

 

(TỰ NGÃ TRONG KINH NIỆM XỨ)

 

Bây giờ chúng ta nói thêm một chút về Kinh Đại Niệm Xứ.

Trong bản kinh này, chúng ta sẽ gặp được rất nhiều chữ “Tôi”: “Tâm Tôi”, “Tôi Biết” v.v..

“Khi Tâm Tôi có tham, Tôi biết Tâm tôi có tham”, “Khi Tâm tôi có sân, Tôi biết Tâm tôi có sân”, “Khi thở ra Tôi biết Tôi đang thở ra”, Khi thở vô, Tôi biết Tôi đang thở vô” v.v..

Rất nhiều, rất nhiều những lời kinh như thế. Vậy Tôi ở đây là Tôi nào đây? Tôi nhận biết hay Tôi được nhận biết? Tôi chủ thể hay tôi khách thể?

Một lần nữa, chúng ta thấy rõ ràng rằng có hai pháp: “Một pháp là Tôi và một pháp không phải là tôi”.

Do phần lớn chúng sanh đang sống trong vô minh lầm tưởng “cái không phải là tôi” lại là “tôi” (bản ngã) nên có phải vì thế Đức Phật mới nhấn mạnh đến cái Atta thực này để phá tan ngộ nhận?

Chúng ta có thể tạm gọi là “Tôi lớn và tôi nhỏ”, “Tôi thật và tôi giả” để phân biệt hai thực tại Vô vi và Hữu vi mà chúng ta vừa phân tích ở trên.

Trong Phật Giáo, không hiểu được ý nghĩa thật sự của từ “Ngã” hay “Tự Ngã”, làm sao chúng ta có thể cảm nhận được những câu như thế này:

 

Thiên thượng thiên hạ

Duy ngã độc tôn

Nhất thiết thế gian

Sanh lão bệnh tử

(Trên trời dưới trời

Ta là trên hết

Tất cả thế gian

Sanh già bệnh chết)

Hay

Nhược dĩ sắc kiến ngã,

Dĩ âm thanh cầu ngã,

Thị nhân hành tà đạo,

Bất năng kiến Như Lai.

(Nếu dùng sắc thấy Ta

Dùng âm thanh cầu Ta

Người đó hành đạo tà

Không thể thấy Như Lai)

Khi hiểu được ý nghĩa thâm sâu của từ “Tự Ngã”. “Atta” như vậy, tâm chúng ta sẽ mở rộng phóng khoáng hơn rất nhiều , nhất là khi tiếp nhận những lời giảng của các vị đạo sư đương thời, tất nhiên là đôi khi không cùng truyền thống với chúng ta.

Vì nếu không hiểu đúng, chúng ta lại quy chụp cho họ là “ngoại đạo”. “tà kiến” mà không biết rằng “kẻ ngoại”, “kẻ tà” có vấn đề lại chính là mình. Nếu chuyện đó xảy ra thì thật là đáng tiếc !

 

Namo Buddhaya

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

CHÓI SÁNG CỘI NGUỒN TÂM (Mục lục)



MỤC LỤC
Lời nói đầu

Lời giới thiệu



I. CỘI NGUỒN TÂM CHÓI SÁNG




1. Tâm chói sáng và một số hình ảnh về cội nguồn tâm trong kinh tạng Pali



2. Bản chất đích thực của tâm (Ajahn Thate)



3. Cốt lõi thực sự của tâm (Ajahn Maha Bua)



4. Chân tâm và tâm trí (Ajahn Thate)



5. Cái biết không sinh không diệt (Ajahn Chah)



6. Tâm nguyên thủy (Ajahn Chah)



7. Tâm sáng chói và thuần khiết (Ajahn Mun)



II. HƯỚNG TÂM VỀ CỘI NGUỒN VÔ TƯỚNG: NHƯ LÝ TÁC Ý




1. Như lý tác ý trong kinh tạng Pali



2. Như lý tác ý (Minh Tuệ Đỗ Minh)



3. Tứ Niệm Xứ: Con đường về lại cội nguồn tâm (Minh Tuệ Đỗ Minh)



III. CỘI NGUỒN VÔ VI: NỀN TẢNG VÔ TƯỚNG CHO VẠN PHÁP HỮU VI SINH KHỞI




1. Pháp vô vi và pháp hữu vi (Minh Tuệ Đỗ Minh)



2. Pháp vô vi và pháp hữu vi (Ajahn Sumedho)



3. Bản chất thực sự của pháp hữu vi (Ajahn Sumedho)



4. Rỗng không – Không điểm tựa (Ajahn Chah)



5. Không gian – Ngoài sao trong vậy (Eckhart Tolle)



6. Hướng về pháp vô vi (Ajahn Chah)



7. Không gian và tĩnh mặc (Eckhart Tolle)



8. Ghi nhận không gian (Ajahn Sumedho)



9. Sự yên tĩnh và im lắng (Eckhart Tolle)



10. Lắng  nghe tiếng vô thanh trong nhạc Trịnh Công Sơn (Minh Tuệ Đỗ Minh)



11. Đi vào bầu trời trong veo (B.S.Rajneesh)



12. Trung tâm yên lặng giữa âm thanh (B.S.Rajneesh)



13. Tâm như bầu trời (Jack Kornfield)



IV.: KẾT NỐI VỚI CỘI NGUỒN BẰNG KHOẢNG TRỐNG GIỮA HAI TƯ TƯỞNG




1. Khoảng trống vô niệm (Eckhart Tolle)



2. Khoảng trống giữa hai ý nghĩ (G.Rinpoche Padmasambhava)



3. Không gian chung quanh những ý tưởng (Ajahn Sumedho)



4. Khoảng trống giữa hai tư tưởng (Krisnamurti)



5. Nhìn không gian (B.S.Rajneesh)



6. Lỗ hổng và ý nghĩ (B.S.Rajneesh)



7. Tạo ra khoảng hở bằng hơi thở (Eckhart Tolle)



8. Những câu nói hay về khoảng hở



9. Tỉnh giác im lặng (Ajahn Brahm)



V. CẢM HỨNG VỀ NGUỒN QUA 20 
    CA KHÚC




1. Đường về cõi mênh mông



2. Dạ khúc mênh mông



3. Đường chim không dấu



4. Nước trong trăng hiện



5. Em cười nắng lên



6. Dấu lặng trăng rằm



7. Mắt biếc một trời thơ



8. Ngọn nến trong đêm



9. Dạ khúc đường xưa mây trắng



10. Hạnh phúc là khi



11. Cám ơn cuộc đời



12. Bình an chốn này



13. Đâu chốn bình yên



14. Thơm nụ sen hồng



15. Con mắt bình tâm



16. Xuôi dòng về biển



17. Lời hát thiên thần



18. Gia trung hữu ngọc



19. Mây trời sóng biển



20. Rộng cánh chim bay



VI. VĂN BẢN PHÁP THOẠI TIẾNG ANH




1. The true essence of the mind (Bản chất đích thực của tâm - Ajahn Thate)



2. The true essence of the mind (Cốt lõi thực sự của tâm - Ajahn Maha Bua)



3. The heart and the mind (Chân tâm và tâm - Ajahn Thate)



4. The knowing is not born and does not die (Cái biết không sinh không diệt - Ajahn Chah)



5. The natural state of the mind (Tâm nguyên thủy - Ajahn Chah)



6. The radiant mind (Tâm sáng chói - Ajahn Mun)



7. The unconditioned and the conditioned (Pháp vô vi và pháp hữu vi - Ajahn Sumedho)



8. The true nature of conditions (Bản chất thực sự của pháp hữu vi - Ajahn Sumedho)



9. Emptiness – No abiding (Rỗng không – Không điểm tựa - Ajahn Chah)



10. Toward the unconditioned (Hướng về pháp vô vi – Ajahn Chah)



11. The space – as without so within (Không gian – Ngoài sao trong vậy - Eckhart Tolle)



12. Space and silence (Không gian và tĩnh mặc - Eckhart Tolle)



13. Noticing the space (Ghi nhận không gian - Ajahn Sumedho)



14. Silence and stillness (Sự yên tĩnh và im lắng - Eckhart Tolle)



15. Enter the clear sky (Đi vào bầu trời trong veo - B.S.Rajneesh)



16. The center of sound (Trung tâm yên lặng giữa âm thanh - B.S.Rajneesh)



17. Mind is like sky (Tâm như bầu trời - Jack Kornfield)



18. The no-mind gap (Khoảng trống vô niệm - Eckhart Tolle)



20. The space around thoughts (Không gian chung quanh những ý tưởng - Ajahn Sumedho)



21. The interval between thoughts (Khoảng trống giữa hai tư tưởng - Krisnamurti)



22. Look in the sky (Nhìn không gian - B.S.Rajneesh)



23. 19. The gap between thoughts (Lỗ hổng và ý nghĩ - B.S.Rajneesh)



24. Creating gaps with the breath (Tạo ra khoảng hở bằng hơi thở - Eckhart Tolle)



25. Silent awareness (Tỉnh giác im lặng - Ajahn Brahm)