Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015

GIÓ ĐỜI HƯƠNG ĐẠO_ĐÓA HOA VÔ THƯỜNG

ĐÓA HOA VÔ THƯỜNG
Trịnh Công Sơn
1.
Tìm em tôi tìm
Mình hạc xương mai
Tìm trên non ngàn
Một cành hoa khôi
Nụ cười mong manh
Một hồn yếu đuối
Một bờ môi thơm
Một hồn giấy mới

Đóa Hoa Vô Thường có lẽ là một ca khúc khó “giải mã” nhất của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Đóa hoa này có tên là Vô Thường, vì mang phận hoa nên phải chịu kiếp “sớm nở tối tàn” theo luật đổi thay của trời đất? Hay có thể là Đóa hoa bất hoại, vĩnh hằng, dù giữa vô thường vẫn không úa héo?

“Tìm em tôi tìm”, “Tìm em xa gần”, “Bỗng tôi thấy em”, “Tôi mời em về” … Những câu như thế này rất rõ để thấy được chủ để “tìm và gặp” trong tác phẩm. Em là ai? Một người con gái bình thường, thế tục? Hay một nàng thiếu nữ của đạo hóa thân? Xin được “dông dài” ở những phần sau.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ít dùng điển tích bằng tên người, tên địa danh như Lưu Nguyễn, Thiên Thai giống Văn Cao (Thiên thai), hay Quỳnh Như, Cô Tô giống Cung Tiến (Hương xưa). Hình ảnh thường được sử dụng nhiều hơn, như “tên mục đồng”, “con ngựa hồng” nói lên hai chí hướng khác nhau cùng xuất hiện trong một con người, v.v... Chiều sâu trong nhạc Trịnh quả tình làm khó, làm choáng những người ít đọc sách xưa , nhất là sách tâm linh, tôn giáo, triết học.

Ngay từ đoạn mở đầu của Đóa Hoa Vô Thường, hình ảnh “mình hạc xương mai”, chuyên chở ý Đạo, đã hiện lên vừa đẹp, vừa khó hiểu! Mai và hạc tương trưng cho điều gì?

“Mai” làm ta nhớ đến “Tiền đình tạc dạ nhất chi mai” (đêm qua sân trước một nhành mai) trong bài thơ Cáo Tật Thị Chúng của thiền sư Mãn Giác.

Xuân ruổi trăm hoa rụng,
Xuân tới, trăm hoa cười.
Trước mắt việc đi mãi,
Trên đầu già đến rồi.
Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua, sân trước một cành mai
(Ngô Tất Tố dịch)

Cành mai này là một pháp vô sinh diệt, một pháp xuất thế gian. Thiền sư đã đưa mắt nhìn tất cả các pháp sinh diệt, các pháp thế gian (xuân đi, hoa tàn, việc qua, tóc trắng) mà vẫn nhìn thấy một pháp vô sinh diệt, một pháp xuất thế gian (cành mai với tính bất hoại). Sinh tử (xuân, hoa, việc, tóc trắng) và Niết Bàn (cành mai trên đất tâm bất hoại trước thời gian).

Trong Đóa Hoa Vô Thường, Trịnh Công Sơn có viết câu “Có tôi trong dáng em ngồi trước sân”, chắc là có ít nhiều ý tứ liên hệ đến bài thơ này.

Giờ đây, chúng ta cùng đến với “Hạc” của Tản Đà và Thôi Hộ.

Đá mòn , rêu nhạt
Nước chảy , huê trôi
Cái hạc bay lên vút tận trời
Trời đất từ đây xa cách mãi
Cửa động
Đầu non
Đường lối cũ
Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi .
(Tống Biệt - Tản Đà)

Hạc vàng ai cưỡi đi đâu ?
Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
(Lầu Hoàng Hạc - Thôi Hộ - Bản dịch của Tản Đà)

Cánh hạc, dù trắng hay vàng, vẫn thường là hình ảnh tải ý đạo rất hay. Hạc thường đi đôi với trăng và hoàng hôn. Hạc là hình ảnh của những ông tiên thoát tục, cưỡi hạc bay về chốn thanh cao, xa rời tục lụy thế gian.

Ba bài thơ vừa dẫn ở trên chỉ là một gợi ý, bạn đọc nào có hứng thú, muốn tìm hiểu sâu hơn, chỉ việc “gú gồ”, tài liệu có sẵn rất nhiều trên mạng.

Như vậy, hình ảnh “Tìm em tôi tìm, mình hạc xương mai” trong Đóa Hoa Vô Thường cho chúng ta thấy con đường tầm đạo của Trịnh. Đường tìm về với bản tâm, cội nguồn tâm thức trong trắng, thanh khiết như “cành hoa khôi”, sáng như “bờ giấy mới”, thơm như “bờ môi thơm” trong chính mình. Bởi khó tìm, nên “nụ cười” ấy rất “mong manh”, không dễ thấy. Có thấy được chăng, cũng “yếu đuối”, rất khó để duy trì sự bền vững, lâu dài.

2.

Tìm em tôi tìm
Nhủ lòng tôi ơi
Tìm đêm chưa từng
Tìm ngày tinh khôi
Tìm chim trong đàn
Ngậm hạt sương bay
Tìm lại trên sông
Những dấu hài

Đoạn hai gồm tám câu bốn chữ. Bốn câu đầu xin được diễn Nôm như thế này: “Tôi đang và sẽ mãi đi tìm Em, luôn tự nhủ rằng dù đêm hay ngày cũng không bao giờ dừng lại cuộc hành trình tìm về lại sự tinh khôi, thuần khiết của Em, của cội nguồn tâm”.

Chữ “tinh khôi” trong câu này đã được dùng trong  “cành hoa khôi” (cành hoa tinh khôi) ở đoạn một. Tính từ này đồng nghĩa với “hồn nhiên” trong “em hồn nhiên rồi em sẽ bình yên”. Có một lần Trịnh gọi cái hồn nhiên, cái tinh khôi cội nguồn này là “sự nguyên vẹn của tâm”. Bốn câu còn lại cũng rất hay, chim ngậm hạt sương và dấu hài trên sông, phần sau sẽ tiếp.

Một lần nữa, xin giới thiệu Độc Huyền của nhà thơ Phạm Thiên Thư, chuyên làm thơ về Đạo. Việc đăng nguyên bài thơ của một tác giả khác có thể hơi lan man, không tập trung vào chủ đề chính. Nhưng đây là một bài đặc biệt có nhiều điểm tương đồng với Trịnh khi gọi Tâm là Em, với “hình hài diễm lệ”, nên cũng xin được “bạo tay” vậy.

ĐỘC HUYỀN
(Phạm Thiên Thư)
Khép mắt - ta nhìn em
Thấy hình hài diễm lệ
Đứng trên ngàn sóng bể
Trấn át làn phong ba .
Tà áo trắng kiêu sa
Đôi mắt huyền như ngọc
Đôi môi thuyền độc mộc
Chở thơm khoang đào hoa
Mái tóc dài thướt tha
Cài đóa hồng tuệ nhật
Phải em - là sự thật
Từ một ngày rất xa .
Mở mắt - ta nhìn ra
Thấy em là nốt nhạc
Trên dây tình ngơ ngác
Em là một điểm âm
Em nạm vàng chữ Tâm
Trên nền đêm biêng biếc
Em là con cá diếc
Trong tim ta dòng sông.
Ẩn trong sợi tơ đồng
Ngân lên từng cung điệu
Năm ngón hồng kỳ diệu
Anh rung thành tiếng tim.
Mở mắt - ta nhìn thêm
Thấy chúng mình vô ngã
Thấy em xanh thảm mạ
Anh xoè cánh hạc bay .
Ta tình cờ ra đây
Cũng như là tất cả
Ơi! Dây tình kỳ lạ
Hội tròn một điểm ngân.

Trong Độc Huyền, chúng ta cùng rung động với những câu thơ nhẹ nhàng, yên ắng khi nói về Em chân lý. Em sự thật vốn trắng bạch như vỏ ốc, đẹp như một đóa hoa hồng dưới ánh sáng của mặt trời khi thoát khỏi mây. Em đã ở đó từ rất lâu rồi, tà áo trắng, đôi mắt, đôi môi huyền diệu, mái tóc thướt tha của Em, Một chữ tâm vàng.

Hay nói “quái” như thi sĩ Bùi Giáng:

Em ơi Em đẹp vô cùng
Vì Em có cái lạ lùng bên trong

Muốn thấy “em có cái lạ lùng” “từ ngàn xưa” này phải vượt qua được rào cản hay lớp sơn giả tạo của chữ nghĩa, ngôn từ.

Người nằm đó từ ngàn xưa vang bóng
Ta bước qua từ ngữ rụng hai lần.

Khi thấy được Em thì đời sẽ “lẫy lừng”, “líu lo” như Trịnh đã tưng bừng với “Từ nay ta đã có nàng” trong đoạn tiếp theo của Đóa Hoa Vô Thường.

3.

Tìm chim trong đàn
Ngậm hạt sương bay
Tìm lại trên sông
Những dấu hài

Tạm diễn bốn câu này như sau “Tìm cánh chim nào có ngậm hạt sương trong đàn chim đang bay. Tìm những dấu hài, dấu chân đã để lại của người xưa trên đường vượt qua bờ bên kia dòng sông tục lụy”.

Hạt sương vốn trong vắt trong veo, long lanh thuần tịnh, tinh khiết, thanh tao. Ai là người đã có hạt sương như ngọc này? Cánh chim nào có ngậm hạt sương đã từng bay qua trái đất này và đã dâng tặng cho nơi này ý nghĩa của hạt sương tuyệt vời này?

Ai biết chút ít thơ thiền đều nhớ câu thơ của Trần Nhân Tông “Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch” (trong nhà có sẵn ngọc, không cần phải tìm kiếm ở đâu xa). Viên ngọc ấy có phải là một cách nói khác của hạt sương? Thánh nhân như Phật, như Chúa là những người đã “ngậm” viên ngọc này và đã chỉ ra rõ ràng rằng trong mỗi người chúng ta viên ngọc này đều có sẵn. Tiếc thay, không nhiều người biết để có thể “ngậm” như các ngài.

Có chuyện xưa kể rằng khi Thượng Đế sáng tạo ra loài người, biết loài người rất thông minh nên sau khi bàn bạc với thần thánh trên trời về chỗ cất dấu viên ngọc đó. Đỉnh núi cao nhất? Đáy biển sâu nhất? Tất cả những nơi này đều không phải là nơi an toàn bí mật, vì loài người vẫn có khả năng tìm được. Cuối cùng quyết định đặt viên ngọc ấy vào ngay trong tâm của con người. Và rất ít người tin vào sự kỳ diệu của viên ngọc đó, không tha thiết tìm cầu, nên điều thiêng liêng ý nghĩa nhất của kiếp sống trăm năm này đã dần dần bị mai một. Phải chăng đây là ý nghĩa của “Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người”?

Chúng ta đều biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là người mê sách. Ông đọc rất nhiều, có thể nói vui là biết nhiều đàn chim. Mỗi cuốn sách như một cánh chim mà Ông đã từng say sưa tìm trong đó hạt sương của chân lý, hạt sương của ánh sáng, tình yêu và sự thật. Những khúc Trịnh ca làm rung động biết bao trái tim cũng xuất phát từ một tâm hồn khát khao cháy bỏng với hạt sương, dấu hài.

Ai cũng đắng lòng khi đọc những dòng tâm sự: “Khi tôi yêu thương cái tuổi đời ngào ngạt hương hoa này thì đồng thời tôi cũng yêu luôn một cõi đời tôi đã mất”.

Hai câu cuối có hình ảnh “dấu hài” và “dòng sông”. Dòng sông thì có bờ bên này, bờ bên kia. Tại sao từ dấu hài được dùng mà không phải là dấu chân? Thực ra, cả hai từ này vẫn có thể thay thế cho nhau được, nhưng dấu hài gợi rõ hình ảnh tiên phong đạo cốt hơn.

Chỉ có những ai thấy được con đường thực sự đi về bến giác, qua được bờ bên kia, mới có khả năng để lại dấu hài trên những lời kinh để “chiều em ra đứng hát kinh đầu sông” mà chúng ta sẽ nghe trong đoạn bảy.

4.

Tìm em xa gần
Ðất trời rộn ràng
Tìm trong sương hồng
Trong chiều bạc mệnh
Trăng tàn nguyệt tận
Chưa từng tuyệt vọng
Ðâu em

“Sương hồng”, “ Chiều bạc mệnh” ? Thử thêm chữ sáng vào để thành “sáng sương hồng”, “chiều bạc mệnh” xem sao. Nghe cũng tạm ổn. Thời gian một ngày? Thời gian một đời? Trong hữu hạn từ  tuổi trẻ bình minh đến tuổi già bóng xế? Rất chóng vánh, tạm bợ nhưng ta vẫn tìm em, dù ở đâu, “xa” hay “gần”. Ta biết khi ta gặp em là hiểu được sự tinh khôi “rộn ràng” của “đất trời”.

Em là ai? Em ở đâu? Có phải em là “cành hoa khôi” hiếm quý “trên non ngàn” xa thẳm, tựa đóa Linh Chi nở trên núi Tuyết Sơn ngàn năm một thuở? Hay núi non, rừng rậm trong trái tim ta? Ta biết chỗ của Em rồi đây: “dưới chân cội nguồn” (đoạn bốn)! Cội nguồn vốn như hư không trống rỗng, gốc của vạn pháp, dung chứa tất cả mọi “vô thường”. Dẫu sự sống có mất đi nhưng cội nguồn đó không bao giờ thay đổi. Cội nguồn đó, viên ngọc đó nằm chính giữa tâm ta.

“Trăng tàn nguyệt tận” là một cách nói khác của “sông cạn đá mòn” mà chúng ta đã gặp trong Lặng Lẽ Nơi Này, nhưng “trăng” gợi một ý nghĩa bền vững hơn, khó cạn, khó mòn hơn sông và đá. Bền vững như thế, khó tàn, khó tận như thế, mà ta vẫn đi tìm cho đến lúc trăng không còn nữa. Quả thật, nếu hiểu sâu hơn ý tứ sau mỗi chữ mỗi câu, ta càng rung động thêm với Trịnh.

“Chưa từng” có lẽ là từ dễ thương nhất. Dù đã xuất hiện một lần trong “tìm em chưa từng” ở đoạn hai, nhưng với đoạn ba này, “chưa từng” đi theo cùng “tuyệt vọng” làm tăng thêm sự rõ ràng trước đó chưa được rõ. “Chưa từng tuyệt vọng đâu em” về sau đã trở thành “tôi ơi đừng tuyệt vọng” vang nhẹ suốt với chúng ta trong những lúc thăng trầm.

5.

Tìm trong vô thường
Có đôi dòng kinh
Sấm bay rền vang
Bỗng tôi thấy em
Dưới chân cội nguồn
Tôi mời em về
Ðêm gội mưa trong
Em ngồi bốn bề
Thơm ngát hương trầm

Mấy câu này xin được dùng văn xuôi để diễn tả ý tứ như sau “Trong biến thiên không ngừng thay đổi của vạn pháp hữu vi gọi là vô thường, tôi đã thấy được những lời kinh vang lên tiếng vọng sấm sét của người xưa. Giữa những lời kinh đó, tôi đã bất ngờ rung cảm được một đôi dòng chỉ thẳng về phía cội nguồn: “trực chỉ chân tâm”. Tôi thấy em, tôi đã thấy tôi chân thật của chính mình. Tôi trân trọng đảnh lễ cái suối nguồn xưa tinh khôi ấy, như nước mưa cam lồ gội rửa bụi trần, làm trong mát tâm tôi giữa mùi hương trầm bốn phương thơm ngát”.

Kinh như sấm ! Ai trong chúng ta cũng đã từng được nghe tiếng chuông chùa, tiếng chuông nhà thờ thanh thoát. Đơn giản là chuông thôi nhưng xao xuyến, rung động biết bao.

Hãy cảm nhận thêm bên cạnh âm thanh dịu nhẹ, chuông còn làm “giật mình” thức tỉnh qua hai câu thơ của Chu Mạnh Trinh đã viết.

Thoảng bên tai một tiếng chày kình
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng

Trong kinh Phật, lời kinh còn được ví như tiếng rống sư tử (lion’s roar). Khi chúa sơn lâm cất tiếng, mọi loại khác đều run sợ và quy phục. Khiêm tốn như chuông, mạnh cường như rống đã như vậy, nói chi tới độ rền vang của tiếng sấm mà Trịnh đã hát, đủ biết sức cảm đạo phấn khích, bay bổng như thế nào trong người nghệ sĩ này.

Đoạn bốn này vẫn còn nhiều từ hay như “gội”, gội rửa tâm cho trong (tĩnh tâm hay thanh tịnh tâm) mà sau này chúng ta nghe thoang thoảng trong câu “mười năm tắm gội, giật mình ôi chiếc lá thu phai”.

Cuối cùng, từ dịu nhất vẫn là “hương trầm”. “Hương trầm có còn đây, ta thắp nốt chiều nay” là một trong nhiều câu hát  thật xé lòng trong Ru Ta Ngậm Ngùi. Khó mà không ứa lệ khi nghĩ đến niềm hân hoan, ngây ngất xưa “em ngồi bốn bề, thơm ngát hương trầm” đã theo thời gian phai nhạt. Lồng lộng gió đời đã lấn át hương đạo ngát thơm.

Cùng ý với “hương trầm”, còn có “cành mai”, đôi khi cũng chịu chung số phận: “Hòn đá lăn trên đồi,  hòn đá rớt xuống cành mai, rụng cánh hoa mai vàng, chim chóc hót tiếng qua đời” (Ngâu nhiên).
Cành mai ngày xưa nở vàng bên tiếng chim trong trẻo, giữa trời đất rộn ràng, nay đã rụng cánh. Chim vẫn hót nhưng là tiếng hót qua đời. Nếu không cũng là “Trên giọt máu cuồng điên, con chim đứng lặng câm”. Không còn là tiếng líu lo như xưa nữa.

6.

Trong vườn mưa tạnh
Tiếng nhạc hân hoan
Trăng vàng khai hội
Một đoá hoa quỳnh

Biến động của cuộc đời có lẽ là ý nghĩa gần nhất của mưa, như “Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động” (Diễm xưa). “Vườn mưa tạnh” là sự yên tĩnh của vườn tâm. Ai có đọc Tagore không thể không nhớ “Người làm vườn” (Gardener) rất hay của nhà thơ nổi tiếng này. Trịnh Công Sơn cũng có Vườn Xưa nói lên tâm trạng cô đơn của mình khi nhớ đến khu vườn đã từng có “nhạc”, có “trăng”, có “hoa quỳnh” thơm ngát mùi “hương trầm” mà ta đang gặp ở đây.

Khi mưa đời đã tạnh thì theo sau là “tiếng nhạc hân hoan”, cung đàn của đạo. Lời kinh vang lên như tiếng chim hót tươi vui, như nhạc trời thanh tao, trong suốt.

Đó là lúc ta “có tình”, “có người”. Lòng tựa đứa bé hồn nhiên, reo vui khi nhận quà từ tay mẹ. Nét thơ ngây này nếu để diễn tả tình yêu nam nữ thì khó chấp nhận được. Cùng nghe trước đoạn sáu.

Từ nay tôi đã có người
Có em đi đứng bên đời líu lo
Từ nay tôi đã có tình
Có em yêu dấu lẫy lừng nói thưa

“Một đóa hoa quỳnh” giữa “Trăng vàng khai hội” xin được nói thêm sau.

7.

Trăng vàng khai hội
Một đoá hoa quỳnh
Một bức tranh thật đẹp! Hoa quỳnh, hoa chung thủy, hoa của tình yêu đầu tiên và duy nhất. Loài hoa chỉ nở về đêm giữa mộng mị chìm đắm của nhân gian. Diễm kiều, lộng lẫy như nữ hoàng nhưng rất khiêm nhường, kín đáo. Hương thơm quý phái chỉ dành cho mặc khách, tao nhân.
Sau này, qua những ca khúc của Trịnh, ngoài Quỳnh Hương ra, ta cũng gặp thêm nhiều loại hoa khác như Mai, Tường Vi v.v… Hoa của Trịnh luôn luôn sáng lên một cái gì đó rất thánh thiện, cao cả. Nhạc của Ông được gọi là “kinh tình yêu” vì bên cạnh tình yêu nam nữ, còn có hương vị tình yêu của kinh, tình yêu của đạo. Cùng đọc lại mấy câu này:
Một đêm bước chân về gác nhỏ
Chợt nhớ đóa hoa Tường Vi
Bàn tay ngắt hoa từ phố nọ
Giờ đây đã quên vườn xưa
(Đêm thấy ta là thác đổ)
Chợt nhớ một người con gái xa xưa, đã từng say đắm một thời, nhưng phố nọ vườn xưa đã phai mờ trong trí ? Hay chợt nhớ những lời kinh xưa từng tìm, từng gặp nhưng giờ đây đã lãng quên? Từng câu nhẹ nhàng như thế thôi nhưng càng hát càng cứa vào lòng ta thật xoáy nhức. Hay bốn câu khác.
Em đến nơi này bao điều chưa nói
Lặng lẽ chia xa sao lòng quá vội
Một cõi bao la ta về ngậm ngùi
Em cười đâu đó đông vui
(Hoa vàng mấy độ)
Một tình yêu mới quen, chưa hiểu nhau nhiều sao đã chia xa, mà lại xa chia vội vàng, lặng lẽ ? Hay một tình yêu dành cho chân lý, mới hân hoan như khai hội ngày nào, còn nhiều điều để hiểu, để đi thêm, nhưng lại nửa chừng chóng buông, vội bỏ? Nụ cười như hoa ánh sáng của mặt trời vẫn chiếu sáng giữa chốn đông vui nhưng ta lại quay lưng hững hờ, để lúc nào cũng thốt lời ngậm ngùi giữa cõi bao la?
Rất nhiều những hình ảnh có sự đan quyện giữa hai màu sắc đạo đời thế này đã làm cho dòng nhạc Trịnh trở nên bất tử.
Mượn những bức tranh tối, buồn ở trên để cảm nhận sự thanh thoát của hoa quỳnh, tương phản, nổi bật dưới ánh trăng vàng lung linh ngày khai hội.




8.
Từ nay tôi đã có người
Có em đi đứng bên đời líu lo
Từ nay tôi đã có tình
Có em yêu dấu lẫy lừng nói thưa
Từ em tôi đã đắp bồi
Có tôi trong dáng em ngồi trước sân
Sự hồn nhiên, trong sáng của tiết tấu, giai điệu lẫn ca từ nổi lên rất rõ trong đoạn sáu này. “Có” lặp đi lặp lại như nỗi vui mừng của một người gặp được của quí sau thời gian miệt mài tìm kiếm. “Có người” là có những dòng kinh hướng đạo cho mình thấy bản chất thực của kiếp sống phù du, người đó có tên là Trí tuệ. “Có tình” là có thêm được một trái tim bác ái, bao dung, yêu thương mọi loài, tình đó có tên gọi là Từ bi. Trí tuệ và Từ bi ấy còn được gọi là “Em”, là Tâm, là Đạo.
“Em đi đứng líu lo bên đời” luôn luôn cho tôi sự thăng hoa, không phải như em tình yêu đôi lứa, cũng rất đáng yêu nhưng thường mang theo mưa nắng khó lường.
“Em yêu dấu lẫy lừng nói thưa” mãi mãi cho tôi những lời tỉnh thức, không giống như em tình yêu nam nữ, dễ làm rơi lệ buồn trên giọt máu cuồng điên.
Những chữ hay nhất ở đây là “trước sân”. Chúng ta chắc vẫn còn nhớ câu thơ “Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết, đêm qua sân trước một cành mai” của thiền sư Mãn Giác, đã được giới thiệu trong phần đầu. “Em ngồi trước sân” là cách nói gọn của “cành mai sân trước”.
Xin được trích lại một phần: “Cành mai này là một pháp vô sinh diệt, một pháp xuất thế gian. Sự có mặt của cành mai này vượt qua sự tàn phá của thời gian. Thiền Sư đã đưa mắt nhìn tất cả các pháp sinh diệt, các pháp thế gian (xuân đi, hoa tàn, việc qua, tóc trắng) mà vẫn nhìn thấy một pháp vô sinh diệt, một pháp xuất thế gian (cành mai với tính bất hoại)”
Như vậy, chúng ta dễ dàng nhận ra ý tứ của Trịnh: “Trong tôi và bất cứ ai cũng có một Em cành mai. Em này có khả năng đắp thêm sự tươi mát, bồi thêm sự phong phú trong cách nhìn, cách cảm nhận về cuộc đời”. Đừng để “Rụng cánh hoa mai vàng, chim chóc hót tiếng qua đời” (Ngẫu nhiên).






9.
Mùa đông cho em nỗi buồn
Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông
Tàn đông con nước kéo lên
Chút tình mới chớm đã viên thành
Sáu đoạn đầu của Đóa Hoa Vô Thường, chúng ta thấy Nhạc sĩ ghi chú trên bài: Tìm tình Nhịp thong dong, Đưa tình về Nhịp hớn hở, Thanh thoảng, Bình an. Giai điệu dù có chuyển trên nhiều điệu thức trưởng (major) khác nhau nhưng chất tươi sáng của yên bình, hân hoan vẫn đậm. Đến đoạn bảy thì điệu thức chuyển qua thứ (minor), hát tự do, nghe buồn vì đây là một đoạn hồi tưởng về những ngày xưa còn bơ vơ trong mùa Đông lạnh.
Mùa Đông cho em nỗi buồn
Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông
Ngày ấy chỉ có nỗi buồn. Mỗi ngày bên dòng sông, nhìn dòng chảy vô thường của cuộc đời, nhìn dòng sông tâm thức, “đứng hát”, đứng gẫm suy, nhưng vẫn mù tắc, chưa rạng tỏ lối đi.
Đóa Hoa Vô Thường được Trịnh viết năm 1972. Sau Mậu Thân 1968, quê hương Việt mình đầy những xác người, nhiều nhất là Huế. Vào thời điểm bi thương ấy, chứng kiến bao điêu tàn phi lý của chiến tranh, nghe kể Trịnh khủng hoảng nặng. Có thể nói đây cũng là một “mùa Đông” rất băng lạnh trong cuộc đời Ông. Nhưng rồi Đông cũng qua, con nước đến.
Tàn Đông con nước kéo lên
Chút tình mới chớm đã viên thành
“Con nước kéo lên” sau buổi “tàn đông” ấy là một sự chuyển hóa bùng vỡ cực mạnh trong cách nhìn của Trịnh về đời, về đạo. “Chút tình mới chớm” là sự khởi đầu cho những tác phẩm hay sau này. Hầu như bài nào cũng ánh lên một phần sự “viên thành” của một trái tim thanh lương, đầy tình thương và hiểu biết.









10.
Từ nay anh đã có nàng
Biết ơn sông núi đáp đền tiếng ca
Mùa xuân trên những mái nhà
Có con chim hót tên là ái - ân.
“Từ nay tôi đã có người”, “từ nay tôi đã có tình”, rồi bây giờ “từ nay anh đã có nàng”, càng lúc càng tăng lên độ nâng niu, trìu mến. Những câu hỏi tha thiết “Nàng ở nơi đâu?”, “Em ở phương nào?” cất lên đã nhận được câu trả lời. “Sự thật ở đâu?” đã được “núi sông đền đáp”.
“Tiếng ca” vang lên rộn rã khi gặp được những “dấu hài bên sông” khiến trời đất cũng “rộn ràng”. Sự trong trẻo của “Cái thuở ban đầu ngây ngất ấy, ngàn năm hồ dễ mấy ai quên” (thơ Thế Lữ, xin sửa “lưu luyến” thành “ngây ngất”) thật quá đẹp trong đôi mắt của người thấy được ánh sáng tràn vào khi cửa mở toang. “Chút tình mới chớm đã viên thành” trong đoạn trước chắc ý không khác nhiều so với “ngàn năm hồ dễ mấy ai quên”?
Sau này, trong Dấu Chân Địa Đàng, tiếng ca này đã được Trịnh nói cách khác “Tiếng ca bắt nguồn từ đất khô, từ mưa gió, từ vào trong đá xưa” và cũng ở bài hát này, tiếng ca ấy đã nhuốm màu tiếc nuối, nhạt phai.
Cuộc đời đó nửa đêm tiếng ca lên như than phiền…
Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng…
Vùng u tối loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng…
Và tiếng hát về ru mình trong giấc ngủ vùi…
Lời ca đau trên cao.
Nhưng từ vui và hay của đoạn này là “ái ân”, dễ “đánh lừa” thiên hạ. Có con chim hót tên là tình yêu, hay yêu thương gì đó thì bình thường.
Cũng tựa như Bùi Giáng, đùa cợt, ngông ngông với “cái lạ lùng”, “ái ân” có lẽ là lối dùng chữ điệu nghệ của Trịnh Công Sơn. Thường thì từ này gợi lên chút gì đó hơi hẹp hẹp, nhưng nếu hiểu “ái” là lòng từ , tình thương, tình nhân ái và “ân” là ân tình, ân nghĩa, ân đức thì đây quả là một từ hay vì nghĩa khá rộng.
Cánh chim mang tên “ái ân” nặng tình thương đời, thương người vẫn đang hót lên những âm điệu mùa xuân trên những “mái nhà” cần được thương yêu.







11.
Sen hồng một nụ
Em ngồi một thuở
Một thuở yêu nhau
Có vui cùng sầu
Từ rạng đông cao
Ðến đêm ngọt ngào
Sen hồng một độ
Em hồng một thuở xuân xanh
Sen buồn một mình
Em buồn đền trọn mối tình
Trong đoạn chín này của Đóa Hoa Vô Thường, từ cành mai ngồi sân trước đến đóa quỳnh giữa trăng rằm khai hội, ý đạo đã “lộ nguyên hình” qua dáng vẻ của “sen hồng”, một hình ảnh quá quen trong kinh Phật.
Hai hình ảnh “sen” và “em” là hai cái tôi trong một con người, “tôi sen” và “tôi bùn”, tuy hai mà một, dung chứa lẫn nhau, hòa quyện với nhau. Hay rõ ràng hơn là “tôi trên cao” và “tôi dưới thấp”. “Tôi sen” trên cao ví như dòng sông trong veo và “tôi bùn” bên dưới đầy tạp nhiễm. Hãy cùng nghe lại vài câu trong Cũng Sẽ Chìm Trôi.
Nhật nguyệt (í a) trên cao
Ta ngồi (ôi à) dưới thấp
Một dòng (í a) trong veo
Sao lòng (ôi à) còn đục
Cũng có thể nói “tôi sen trên cao trong veo” và “tôi bùn dưới thấp ngầu đục” cùng song song tồn tại trong một tâm hồn, cùng “Có vui cùng sầu” trong sáng tối, cùng hiện diện bên nhau  “Từ rạng đông cao đến đêm ngọt ngào”.
Đoạn thơ nhạc đang thơ thới, nhẹ nhàng như thế đột nhiên đổi màu ở hai câu cuối. Thật khó hiểu!
Sen buồn một mình
Em buồn đền trọn mối tình
Từ “sen hồng”, “em hồng” chuyển qua “sen buồn”, “em buồn” là một ý lạ. Tại sao sen hồng lại trở nên buồn? Sen buồn vì sự có mặt của mình không được để ý đến? Sen một nụ ngát thơm nhưng không có người chăm sóc, đẹp như thế nhưng chỉ nhận được sự hờ hững, thờ ơ? Rồi tại sao em buồn? Em buồn vì em muốn đi về phía nhân gian để “đền trọn mối tình” cho nơi ấy, nơi dù có những hương hoa ngào ngạt nhưng cũng lắm xót xa. Em biết em sẽ buồn vì xa sen nhưng “đường trần đâu có gì” phía xa xa ấy vẫn đưa tay mời gọi. Em phải “trả nợ người” thôi.
Chính cái “em buồn” này là nỗi ưu tư đầy khắc khoải của Trịnh, là niềm riêng sâu kín “tự mình biết riêng mình và ta biết riêng ta”. Ông chỉ im lặng, cô độc trải dài những điều ấy trên suốt những bài hát của mình, lấy tiếng hát vừa u trầm với đạo, vừa rạo rực với đời để mang đến sự xoa dịu cho cuộc sống vốn buồn nhiều hơn vui này.
12.
Một chiều em đứng cuối sông
Gió mùa thu rất ân cần
Chở lời kinh đến núi non
Những lời tình em trối trăn
Một thời yêu dấu đã qua
Gót hồng em muốn quay về
Dù trần gian có xót xa
Cũng đành về với quê nhà.
Hát câu “Một chiều em đứng cuối sông” mở đầu cho đoạn mười này, không thể không nhớ “Chiều em ra đứng hát kinh đầu sông” trong đoạn bảy, lúc đón kinh vào đời sau “mùa Đông” buồn. Bây giờ, cũng dòng sông ấy, không phải “đầu sông” mà là “cuối sông”, em lại đứng nhưng lần này là “mùa thu” với gió ân cần, nhờ gió “chở lời kinh đến núi non” cùng những lời tình tự của em như một lời trối cuối.
Lời trối trăng là gì? “Khi nào tình yêu với trần gian đã qua, đã cạn, em sẽ quay về quê nhà. Em biết chốn trần gian ấy có xót xa nhưng đẹp lắm, nào là tình yêu của những người con gái thật dễ thương, nào là tình bạn, tình người nồng ấm. Khi nào “ngựa hồng mỏi vó”, em sẽ rời “gót hồng” ấy để trở về mái nhà xưa thanh bình một thuở.”
Ở đoạn nhạc này, nhạc sĩ có ghi chú: “Con sóng bể dâu đã đưa tình về quê quán cũ”. Sau này, dù vẫn chưa về vì “sóng bể dâu” chưa qua, nhưng dễ dàng cảm nhận hạnh phúc của Ông khi biết rằng mình lúc nào cũng có một quê hương bên trong sâu lặng. Quê hương ấy đã trở thành một nơi nương tựa vững vàng trong cuộc đời sau những lần “gối mỏi chân chùng”.
Câu hát “Chở lời kinh đến núi non” trong làn gió thu ân cần nghe quá dễ thương. Hai chữ “ân cần” toát ra một cái gì thật gần gũi, thân thiết của một tình thương chân thật.
Hình ảnh núi xa xa sau này cũng trở lại nhiều lần: “Cuồng phong cánh mỏi, về bên núi đợi” (Chiếc là thu phai) hay “Núi đứng quanh năm, đất muôn đời nằm, chân ta rộn ràng” (Giọt lệ thiên thu). Ước mơ làm cánh vạc bay về núi luôn luôn thao thức trên những bước chân giang hồ phiêu lãng.
Đoạn cuối cũng “Một thời yêu dấu đã qua, gót hồng em muốn quay về” thì bình thường. Nhưng câu “Dù trần gian có xót xa, cũng đành về với quê nhà”, nghe kỹ sẽ thấy hơi kỳ kỳ.
Nếu “dù trần gian có gấm hoa,…” hay gì gì đó tươi đẹp, thì hợp với “cùng đành (phải) về với quê nhà”. Nhưng tại sao ở đây lại là “xót xa”? Xót xa, đau khổ, phù phiếm, giả tạm thì phải chia tay, cần gì phải “đành” miễn cưỡng.
Phải chăng “Trần gian có xót xa” là “quê hương” có “những đời bão tố, nhọc nhằn trong nắng mưa” ta đã yêu và đã từng sẻ chia tình yêu của ta nơi ấy (Cánh chim cô đơn)?
Những tiếng nói yêu thương dành cho “trần gian” như vậy là đủ rồi, dừng được rồi. Ta phải “rời gót hồng” để “về với quê nhà” thôi.

13.
Từ đó trong vườn khuya
Ôi áo xưa em là
Một chút mây phù du
Ðã thoáng qua đời ta
Từ đó trong hồn ta
Ôi tiếng chuông não nề
Ngựa hý vang rừng xa
Vọng suốt đất trời kia
Từ đó ta ngồi mê
Ðể thấy trên đường xa
Một chuyến xe tựa như
Vừa đến nơi chia lìa
Từ đó ta nằm đau
Ôi núi cũng như đèo
Một chút vô thường theo
Từng phút cao giờ sâu
Từ đó hoa là em
Một sớm kia rất hồng
Nở hết trong hoàng hôn
Ðợi gió vô thường lên
Từ đó em là sương
Rụng mát trong bình minh
Từ đó ta là đêm
Nở đoá hoa vô thường.
Sáu khổ thơ cuối cùng của Đóa Hoa Vô Thường âm hưởng thật bi tráng. Một cánh chim đại bàng vừa rời tổ ấm vút lên bay lượn giữa trời cao, mang theo bên cánh nỗi buồn ly hương nặng trĩu.
Quê hương của Trịnh không giống như quê hương của những người khác, nhưng tâm trạng ly hương thì ai cũng trùng trùng nỗi nhớ như nhau. Chúng ta cùng nghe lại Thuyền Viễn Xứ của Phạm Duy và Hòn Vọng Phu của Lê Thương để đồng cảm thêm tâm sự bịn rịn trên bước chân tang bồng, hay “tình đi người ở lại” như Trịnh đã nói “một chuyến xe tựa như, vừa đến nơi chia lìa”.
Mịt mờ sương khói lên hương
Lũ thùy dương rủ bóng ven sông
Chiều nay trên bến muôn phương
Có thuyền viễn xứ, nhổ neo lên đường
 (Phạm Duy - Thuyền Viễn Xứ)
Đuờng chiều mịt mù cát bay tỏa buớc ngựa phi…
Dấn buớc tang bồng giữa nơi núi rừng
Bên nợ tình thâm, bên nợ giang san
Bên đồi ai oán, bên rừng đa đoan tiễn đưa bóng chàng
( Lê Thương - Hòn Vọng Phu)
Để rồi “từ đó”… “ta nằm đau”, “ta nằm nghe”, “ta là đêm” v.v… Lời kinh xưa nổi lên lồng lộng trong vườn mỗi đêm khuya, tiếng chuông gọi về tịch lặng của núi non không ngừng ngân vang, hòa theo vó ngựa phiêu linh giữa đất trời nhân gian vọng suốt. Nhiều khi thấy mình sẽ mãi mãi vĩnh biệt quê nhà dấu yêu, không bao giờ trở lại, tựa Kinh Kha cảm thán thốt lên bên bờ sông Dịch trước lúc qua Tần.
Phong tiêu tiêu hề, Dịch thuỷ hàn
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục phản
(Gió đìu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê
Tráng sĩ một đi không trở về)
Phần này xem như vài lời dẫn nhập cho hai đoạn cuối mười một và mười hai. Khúc bi tráng, trầm hùng, và cũng là khúc nhạc hay nhất của Đóa Hoa Vô Thường mà chúng ta đang cùng nhau chia sẻ.




14.
Từ đó trong vườn khuya
Ôi áo xưa em là
Một chút mây phù du
Ðã thoáng qua đời ta
Từ khi biết “hát kinh”, ta biết cách nhìn đời, có “tuệ nhãn” hiểu thực chất của những gì đến và đi qua trong đời sống này chỉ là tạm bợ, như khói, như mây. Vạn pháp, không chỉ riêng tình yêu, đều phải như vậy. Dòng sông chảy trôi bất tận, “không ai có thể tắm hai lần trên một dòng sông” như ai đó đã nói.
Trên bài hát, Trịnh viết “Tình do tâm ta mà sinh”. “Vườn” là “tâm”, “áo xưa” là “tình”. Tình ví như mây, mỗi chút tình là một chút mây. Mây không bền vững nên phù du, tồn tại một thoáng thôi rồi biến. Biết vậy, nhưng chiếc áo xưa này có hấp lực rất mạnh, trời chiều mênh mông như thế mà đôi lúc còn bị xô dạt một bên.
Ôi áo xưa lồng lộng
Đã xô dạt trời chiều
Cứ nghe Tình Nhớ là ta có thể cảm nhận được rất rõ sức mạnh này. Dẫu chỉ là “Một chút mây phu du” thoáng qua nhưng muốn quên không dễ. Biết chỉ một bóng hình đi qua giống như “sóng xa” sẽ đưa về quên lãng, nhưng vẫn còn đó, không chỉ “rộn ràng” mà còn “quá bao la”.
“Vườn” cũng là một hình ảnh hay khi nói về không gian của tâm thức. Trong không gian này, suy nghĩ, tình cảm như hoa lá cỏ cây, lúc xanh lúc vàng, khi héo khi tươi, theo mưa theo nắng. Cùng nhớ lại vài câu có “vườn” trong tác phẩm Vườn Xưa.
Trời chợt nắng vườn đầy lá non
Vườn mưa xuống hành lang tối tăm
Chào chiếc lá nằm giữa vườn hoang
“Vườn khuya” trong đoạn mười một này là tâm trạng những đêm khuya thanh vắng nghĩ về quá khứ, ngập đầy những chiếc áo màu sắc khác nhau. Tình yêu vương vấn với bóng hồng luôn luôn là “áo xưa” đẹp nhất và buồn nhất. Có lần ta nghe Trịnh nói “Kỷ niệm nào cũng đẹp nhưng vẫn cứ phải lãng quên”, cũng như từng hát “Tình ngỡ đã quên đi, như lòng cố lạnh lùng”. Lý trí thì nói vậy nhưng tình cảm có khi chẳng chịu chiều theo!






15.
Từ đó trong hồn ta
Ôi tiếng chuông não nề
Ngựa hý vang rừng xa
Vọng suốt đất trời kia
Trong đoạn này, tính kịch cao nổi lên rõ ràng nhờ âm thanh của “chuông não nề” và “ngựa hý vang”. Một tiếng nhu trầm, một tiếng cương mãnh. Một kịch tính bí mật giữa đạo và đời đang xảy ra “trong hồn ta”, giống như sự đối kháng của hai luồng nội công thâm hậu. Một bên biến ảo trùm khắp như “Vô tướng thần công”, một bên uy lực như “Giáng long thập bát chưởng”. Đôi khi hỗ tương cho nhau, đôi khi kinh mạch đảo lộn.
Tiếng chuông ở đây cũng là tiếng hát đã nói đến trong bài mười hai. Xin được trích lại vài dòng.
Cuộc đời đó nửa đêm tiếng ca lên như than phiền…
Và tiếng hát về ru mình trong giấc ngủ vùi…
Lời ca đau trên cao…
Tiếng chuông, tiếng ca này là tiếng kinh một thời đã hát và cũng đã được gởi về núi non, mong hẹn ngày gặp lại phút cuối đời, để “nở hết trong hoàng hôn” như sẽ gặp ở đoạn mười hai. Cũng nhờ tiếng chuông này mà ngựa hồng tăng thêm lòng yêu đời, yêu người trong những ngày nhân gian gió bụi. Và cũng chính nó đôi khi rung lên làm cho ta cảm thấy mình “ngốc dại”, lạc lõng, bơ vơ “tựa bé không nhà” những khi mỏi mệt giữa mưa nắng phù vân.
“Ngựa hý vang rừng xa”? Hình ảnh ngựa, không phải ngựa chiến hay ngựa hoang, mà là ngựa nghệ sĩ, ngựa tâm linh độc đáo chỉ của riêng mình đã được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn yêu thích và sử dụng rất nhiều trong âm nhạc lẫn hội họa.
Đôi khi được đặt cạnh “mục đồng” để rõ ý đạo đời hai hướng như trong Chỉ Có Ta Trong Một Đời.
Đời vẽ tôi tên mục đồng
Đời vẽ tôi tên ngựa hồng
Từ đó tôi lên đường phiêu linh
Đôi khi chán nản vì gối mỏi chân chùng như trong Dấu Chân Địa Đàng: “Ngựa buông vó, người đi chùng chân đã bao lần” hay “Ngựa hồng đã mỏi vó, chết trên đồi quê hương” trong Xin Mặt Trời Ngủ Yên.
Tiếng “Ngựa hý vang rừng xa, vọng suốt đất trời kia” ngày một xa dần quê cũ, như trong Phúc Âm Buồn: “Ngựa xa rồi, ngựa xa rồi trên ngày tháng vơi”.







16.
Từ đó ta ngồi mê
Ðể thấy trên đường xa
Một chuyến xe tựa như
Vừa đến nơi chia lìa
Mê là gì nhỉ? Là vô minh, không thấy ánh sáng? Là không thấy rõ đâu là bến bờ thực sự cho chuyến xe cuộc đời? Là không tỉnh thức để định hướng đi cho trăm năm hữu hạn? Có phải đường ta chọn là đường lạc về phía vực thẳm, cuối đường ta sẽ cất lời tuyệt vọng trước khi rơi xuống vực sâu?
Thật sự khi hát lên những dòng này, chúng ta sẽ cảm nhận được một Trịnh “rất sáng, không mê” ở đây. Vì kẻ “mê” không bao giờ biết mình đang “muội”, như một câu kinh Phật: “Kẻ mê biết mình mê, mới là người có trí, kẻ mê tưởng mình trí, mới thực sự là mê”.
Thế nào là mê? Bài Một Cõi Đi Về có thể giải đáp câu hỏi này. Con đường mê là con “đường chạy vòng quanh” dẫn đến khổ, “tiều tụy”, “mỏi mệt”. Con đường sáng như “hai vầng nhật nguyệt” dẫn đến vui, an lạc, tự tại ung dung. Rồi thế nào là khổ, thế nào là vui? Cứ hỏi, cứ nghe Trịnh, cứ nghe chính tiếng nói nội tâm mình, chắc không khó để tìm một lời giải đáp.
Ngoài hình ảnh của ngựa hý vọng suốt đất trời kia và tiếng chuông vang mãi đất trời này,  chúng ta cũng gặp lại một hình ảnh quen thuộc khác là con đường và chuyến xe. Đường xa? Đường nào đây, đường đi hay đường về?
Một đằng là chuyến xe trên đường xa về phía bụi hồng nhập thế. Một đằng là chuyến xe trở về quê cũ trong lành thoát khói nhân gian. Thế mà….
Em đi bỏ lại con đường
Bờ xa cỏ dại, vô thường nhớ em
Em đi bỏ lại dậm trường
Ngàn dâu cố quận, muôn trùng nhớ thêm
(Em đi bỏ lại con đường)
Đường dẫn đến bờ xa chỉ có cỏ dại vô thường, con đường ấy rất nhớ ta. Đường về “ngàn dâu cố quận” ta cũng muôn trùng nhớ. Bỏ mặc đường nào ? Có những lúc ta cảm nhận được hai xung lực này giày xéo Trịnh. Bỏ. Bỏ. Bỏ hết! Mặc kệ, đường nào cũng kệ, như từng “Thôi kệ” thật khoan dung, độ lượng với nơi ông từng thấy mình chỉ là “cỏ xót xa đưa”.
Bỏ mặc hư vô, bỏ ngậm ngùi
Bỏ mặc chân không, bỏ mặc người
Rồi trên chuyến xe đời nơi xa xăm ấy, có tiếng nói nào đây mà mỗi đêm thấy mình như “thác đổ”?
Chiều nay em ra phố về  Thấy đời mình là những chuyến xe
Còn đây âm vang não nề  Ngày đi đêm tới trăm tiếng mơ hồ.
(Nghe những tàn phai)
“Âm vang não nề”? Có phải là âm vang của tiếng chuông não nề trong Đóa Hoa Vô Thường đã ngân lên từ độ ấy?
17.
Từ đó ta nằm đau
Ôi núi cũng như đèo
Một chút vô thường theo
Từng phút cao giờ sâu
Vừa mới “ta ngồi mê”, giờ là “ta nằm đau”. Tư thế khác, biểu hiện khác, nhưng vẫn là “tâm bệnh”. Trịnh Công Sơn là tên của “bệnh nhân”, “bác sĩ” đang chẩn đoán tên là Sơn Trịnh. Cả hai đã ra đi. Chúng ta đang lật lại “hồ sơ bệnh án” để hiểu thêm chứng “bệnh lạ” của ”dị nhân”này, xưa từng đến thăm trái đất đáng yêu một thời không lâu.
“Ôi núi cũng như đèo”? “Núi” là hình ảnh của lý tưởng, khát vọng, của hoài bão, ước mơ. “Đèo” là con đường dẫn đến núi.
Đường lên núi vẫn lộng gió trắng mây nhưng có một người đã già rồi, tóc chiều rồi, vẫn còn quên ngủ. Giờ nằm đau đây chỉ biết than ôi.
Núi là nơi cho ta hát được lời kinh, nhìn được ánh sáng, và  lời kinh cũng đã được chở về gởi đó. Lúc nào lòng ta cũng hướng về đỉnh núi “địa đàng” cuối trời mờ xa ấy.
“Người hãy nhớ mang theo hành trang
Qua khoang trời vắng chân mây địa đàng”
(Xin mặt trời ngủ yên)
Đóa Hoa Vô Thường như một dự phóng cho định mệnh, một bản đồ cho sự chọn lựa về số phận. Cuộc đời Trịnh đã nói lên dự phóng, chọn lựa ấy. Một trái tim tươi đỏ, ca hát yêu đời hòa với giọt lệ khô buồn bên những mũi tên cắm lên rướm máu. Số phận bi hùng của một cánh chim trời sống xa đàn, cô độc.
Như là chim xa đàn
Giấu nỗi buồn trong cánh
Hẹn hò với giấc mơ
(Cánh chim cô đơn)
Núi ơi! Hãy chờ ta nhé ! khi nào ”cuồng phong cánh mỏi” ta sẽ “về bên núi đợi” (Chiếc lá thu phai)
Hẹn thì hẹn thế, nhưng đôi khi Ông thấy mình như người đã phụ rẫy một tình yêu lớn bao la, may mắn lắm mới gặp được trong đời. “Nhiều đêm muốn quay về” nhưng nhiều đêm cũng thấy đường về núi kia chắc “là một đường không bến bờ” (Lời thiên thu gọi).
Khi cảm nhận được tâm sự trùng trùng này ta sẽ hiểu thêm những lời Trịnh nói như “một cõi đời tôi đã mất”. Ông vừa thấy mình là “kẻ chiến thắng”, vừa là “kẻ chiến bại”. Vui khi sống được với lý tưởng mình đã chọn: “Và như thế tôi sống vui từng ngày, và như thế tôi đến trong cuộc đời, đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi” (chiến thắng). Nhưng cũng buồn vì không hoàn toàn tìm lại được “cõi tịch lặng vô ngôn“ như vẫn từng mơ ước. Hay nói theo Nguyễn Du trong Kiều là chưa thấy được “sương tan đầu ngỏ, vén mây cuối trời”(chiến bại).
Có lẽ “Từng phút cao giờ sâu” là câu lạ nhất ở đoạn này. Có hai cách hiểu nhưng cũng gần giống nhau.
Ở đây, hai trục thời gian và không gian được mở ra bằng những từ ngữ dung dị. Cách thứ nhất, tình yêu núi yêu đèo ấy lúc này lúc kia, trước kia thăng cao, bây giờ giáng sâu, xuống thấp. Cách thứ hai là tình yêu chân lý trước đây đã từng lên cao nhưng chỉ lên ngắn ngủi như phút, bây giờ sâu xuống thì xuống nhiều gấp sáu mươi lần.
Và tình yêu tưởng nguyên vẹn, bền vững ấy cũng phải bị chi phối bởi luật vô thường, nhưng dễ thương  là chỉ “một chút” thôi. Yên tâm đi, có thay đổi, nhưng không sao. Trước sau gì cũng về mà. Hãy đợi đấy!









18.
Từ đó hoa là em
Một sớm kia rất hồng
Nở hết trong hoàng hôn
Ðợi gió vô thường lên
“Từ đó hoa là em”? Hoa trở thành Em, hóa thân của Đạo. Hoa đó vẫn hiện hữu trong tâm của mỗi con người, thường được gọi là Phật tính (Buddha nature) hay bản chất Thượng đế (God nature) như ta vẫn thường nghe trong kinh Phật hay kinh Thánh: “Phật tại Tâm”, “Chúa ở cùng anh chị em”. Hoa cũng là hình ảnh của những bậc chân nhân, thánh hiền với trí tuệ và đức hạnh tỏa  hương thơm ngược gió. Cùng đọc thêm một câu kinh Phật:
"Hương các loại hoa thơm
Không ngược bay chiều gió
Nhưng hương người đức hạnh
Ngược gió khắp tung bay
Chỉ có bậc chân nhân
Tỏa khắp mọi phương trời”
(Pháp cú 54)
“Một sớm kia rất hồng”? Với màu hồng, rất dễ nhận ra đây là màu của đóa hoa sen, đã chớm nụ từ “một sớm kia”. Hoa “sen hồng một độ” ngày nào từng làm ta ngất ngây, tươi tắn: “Em hồng một thuở xuân xanh”. Ta đã “Chở lời kinh đến núi non”, gởi gắm tâm tình của ta với hoa nơi xa xăm ấy, hy vọng ngày không xa sẽ “nở hết trong hoàng hôn”. Ta sẽ tận hưởng hương vị ngọt ngào tinh khôi này sau khi “trả nợ” cho thế nhân trái tim ta đã vay từ ngàn năm trước. Ta sẽ ung dung, thanh thản với mây trời để “đợi gió vô thường lên”, kết thúc những ngày tháng rong chơi nơi hành tinh này.
Cách nói “từ đó hoa là em” (hay em là hoa) sau này chúng ta cũng thấy lại trong Nguyệt Ca: “Từ khi trăng là nguyệt”. Trong Nguyệt Ca, hoa đã hóa thành trăng. Ánh sáng trăng rằm và hương thơm hoa sen cũng đều là biểu tượng của chân lý, của đạo.
Từ khi trăng là nguyệt tôi như từng cánh diều vui
Từ khi em là nguyệt trong tôi có những mặt trời
Hay
Từ khi trăng là nguyệt vườn xưa lá xanh tươi
Đàn chim non lần hạt cho câu kinh bước tới
Từ khi trăng là nguyệt tôi nghe đời vỗ về tôi
Từ khi em là nguyệt câu kinh đã bước vào đời.





19.
Từ đó em là sương
Rụng mát trong bình minh
Từ đó ta là đêm
Nở đoá hoa vô thường
Trong đoạn cuối cùng này, hai hình ảnh đẹp, sương rơi buổi sáng và hoa nở về đêm. “Sương hồng” ở đoạn ba hay “một đóa hoa quỳnh” ngày “trăng vàng khai hội” trong đoạn năm cùng nhau xuất hiện trở lại. Hai bức tranh, một sáng một tối, nằm song song, bức này làm tăng thêm vẻ đẹp của bức kia, tương phản nhưng nằm bên cạnh nhau đã làm cho Đóa Hoa Vô Thường trước khi kết thúc, vang lên những lời thơ dịu dàng, sâu sắc, đầy ấn tượng.
Mưa rơi, hoa rơi là những từ ngợi ca về sự kỳ diệu của những lời kinh. Mỗi câu kinh như giọt mưa, như đóa hoa rơi xuống đem đến mát mẻ cho muôn loài. Trong đạo Phật, hình ảnh này còn gọi là ‘mưa pháp” hay “hoa pháp”. Ở đây, thay vì mưa và hoa, ta gặp thêm hình ảnh của sương, “sương pháp”.
Khi nói lên tâm trạng vui mừng tắm mình trong những giọt sương “rụng mát trong bình minh” này, Trịnh đã vẽ bằng “líu lo”, “lẫy lừng”, hồn nhiên như tiếng chim non, như bước trẻ trong đoạn sáu. Hay nhiều hơn, rõ hơn trong Nguyệt Ca:
Đèn thắp sáng trong tôi…
Tôi như từng cánh diều vui…
Trong tôi có những mặt trời…
Xua tan những nghi ngờ…
Hân hoan giây xuống thế…
Giọt sương ấy, đóa hoa ấy vẫn mãi rực rỡ sắc màu giữa dòng đời vô thường, biến ảo, mộng mộng mơ mơ nhưng cũng tràn đầy tiếng thơ, tiếng nhạc.
Ý nghĩa của “sương”, “hoa”, “trăng” về con đường, sự sống, và sự thật đã nở trên những bước ngựa hồng, vừa nồng nàn, vừa ngậm ngùi với hương vị vui buồn giữa đêm hồng một thời bỏ ngỏ.

oOo


GIÓ ĐỜI HƯƠNG ĐẠO_MỘT CÕI ĐI VỀ

MỘT CÕI ĐI VỀ 
Trịnh Công Sơn

1.

Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi
Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.
Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về .

Một Cõi Đi Về là một ca khúc cao sâu chiều kích tâm linh của Trịnh Công Sơn, cũng là tác phẩm Ông tâm đắc nhất trong sự nghiệp âm nhạc của mình.  Đây là một bài khó “đụng” vào, rất dễ phỏng tay, rất dễ bị hố! “Trèo cao té đau”, biết vậy nhưng kệ, trèo đại thử xem, đau thì đứng dậy, mai mốt rút kinh nghiệm, trèo tiếp.

Một Cõi Đi Về được hiểu nhiều cách khác nhau, phổ biến nhất là Cõi Chết, theo nghĩa của “sinh ký tử quy”, sống gửi thác về”. Một ý nghĩa khác là “kiếp nhân sinh”, cũng giống như “trăm năm trong cõi người ta” của Nguyễn Du vậy. Trong bài này, xin được có thêm một góc nhìn mới về “cõi” này: cốt lõi thực sự của tâm (phục bổn hoàn nguyên) hay bộ mặt thanh tịnh của tâm (bản lai diện mục), và nói theo cách riêng của Trịnh là “vẻ nguyên vẹn” của cội nguồn tâm hay “trở về với Phật tính trong cõi riêng của mình”.

Đoạn nhạc đầu tiên này có thể gọi là một bài thơ Thiền về bờ giác, bến mê, rất Trịnh. Ý tứ không lạ nhưng trở nên sống động qua cách biểu đạt mới mẻ của riêng Ông. Kinh Phật và thơ Thiền Việt Nam cũng có những bài kệ, bài thơ chuyển tải ý “đi đâu loanh quanh” hay “lang thang” này rất hay. Dù “loanh quanh” và “lang thang” hơi khác nhau, nhưng ý nghĩa chung là muốn nói về bước chân không định hướng.

        Vĩnh vi lãng đãng phong trần khách, 
        Nhựt viễn gia hương vạn lý trình 
(Trần Nhân Tông)
        Lang thang làm khách phong trần mãi, 
        Ngày cách quê hương muôn dặm trình 
(Thích Thanh Từ dịch).

Hay Phật trước khi Giác Ngộ cũng là một người lang thang, nhưng là lang thang đi tìm nhà, không giống như hầu hết chúng ta, tuy lang thang nhưng không tha thiết với chuyện trở về “quê quán tôi xưa”.
Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.
(Kinh Pháp Cú, câu 153)

Trịnh là một người hiểu sâu triết lý Phật Giáo nên những vấn đề như Sinh Tử Luân Hồi đều được Ông nhắc đến.

Không có đâu em này
Không có cái chết đầu tiên
Và có đâu bao giờ 
Đâu có cái chết sau cùng
 (Ngẫu Nhiên)

Vòng sinh tử “loanh quanh”, vô thủy vô chung dẫn dắt chúng sanh lăn trôi bất tận khi chưa thực sự về đến “một cõi đi về”.

Kìa còn biết bao người
Dìu dặt tới quanh đây 
(Ngẫu Nhiên)

Ánh sáng của “đôi vầng nhật nguyệt” luôn “rọi suốt trăm năm” trong mỗi trái tim người nhưng không phải ai cũng nhận ra được. Trong truyện cổ Phật Giáo, có sự tích người ăn xin vẫn mãi xin ăn, không biết được trong nhà mình có cả một kho báu. Dựa trên giai điệu của bài Một Cõi Đi Về, xin đươc hát tếu như thế này  “Bao nhiêu năm rồi còn mãi đi xin, trong khi nơi kho muôn ngàn vàng ngọc”.

Về góc độ tự sự, bốn câu đầu tiên này như một suy niệm sâu sắc về thân phận con người và góc nhìn của một thiền nhân về con đường thoát ra khỏi thân phận đó. Như một lời trách nhắc nhẹ nhàng, Trịnh tự trách mình thôi, nhắc mình thôi nhưng ai nghe cũng thấm! Những lời này cũng từng xuất hiện nhiều trong khung trời mênh mông của Trịnh, khi thấp thoáng, khi rõ ràng như ”Trăng ơi trăng rất tệ, mày đi nhớ chóng về” (Biết đâu nguồn cội) hay “Thôi về đi đường trần đâu có gì” (Phôi pha). Không phải là thân phận phù du cát bụi của kiếp người như ở đoạn sau, tàn xuân tàn hạ, mà là nỗi niềm bế tắc “loanh quanh”, “chạy vòng quanh”, “kiến bò quanh đĩa”, lòng vòng không có đường ra, đầy bi kịch phủ kín, bít lấp như “mây che trên đầu” này của hữu hạn trăm năm.

Ở đây, có sự tương phản giữa hai màu sắc nghịch nhau, màu trầm tối “mỏi mệt” than van trên những bước chân không hướng và màu sáng tỏa của “nhật nguyệt” mở hướng, chiếu “nắng trên vai”. Ánh nắng ấy hiện hữu “rọi suốt”, lúc nào cũng có mặt mà sao ta lại “hững hờ” với “chôn quê nhà” đến vậy. “Nhật nguyệt í a trên cao” ấy là gì? “Cõi đi về” ấy là gì? Vẫn còn nhiều điều để nói.

2.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt    
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về.

“Đôi vầng nhật nguyệt” hay “một cõi đi về” đều là những hình ảnh tượng trưng cho chân lý. Trong rất nhiều ca khúc của Trịnh, hình ảnh này cũng xuất hiện với nhiều tên gọi khác như “nguồn cội” (Biết đâu nguồn cội), “hư vô”, “chân như” (Giọt lệ thiên thu), “mái nhà” (Lời thiên thu gọi), “quê quán xưa” (Bên đời hiu quạnh), “địa đàng” (Dấu chân địa đàng), “vô vi” (Nguyệt ca), “thiên thu” hay “ngàn năm” (Ru mãi ngàn năm) .v..v…

Làm sao để thấy được “đôi vầng nhật nguyệt” này? Trong đạo học phương Đông có câu “ngón tay chỉ trăng”, muốn thấy được chân lý (mặt trăng) phải nương theo hướng chỉ của ngôn từ (ngón tay), khi thấy chân lý rồi thì đừng nhìn ngón tay nữa. Chân lý vốn không lời, là chân kinh không chữ như  Nguyễn Du đã từng nói “Chung tri vô tự thị chân kinh” (cuối cùng mới biết rằng chân kinh là không chữ). Và “chân kinh vô tự” cũng chính là “chân tâm vô niệm”. Như vậy, muốn thấy “nhật nguyệt” hay “chân tâm” cần phải nương vào “ngón tay”, “chiếc bè” hay “nhịp cầu” của kinh điển. Đây là lý do tai sao những người tha thiết với chân lý (truth-seeker) thường tìm đến với tôn giáo.

Với Trịnh, chúng ta cũng thấy nơi Ông một tấm lòng nhiệt tâm của một người khao khát muốn trở về với “mái nhà Phật tính” của chính mình: “Có những ngày tháng tôi đã bỏ mình vào một cõi tịch lặng vô ngôn để thử nhìn lại rõ mình hơn” hay “Hãy biến mình vào hư vô, vào hư vô của chính mình, vào hư vô của sự vật, vì trong hư không đó mình sẽ tìm thấy được mình và sự vật ở vẻ nguyên vẹn của nó." “Hư vô” là điều Phật đã nói từ ngàn xưa: “Hãy nhìn đời trống không, thần chết không thấy được”.

 Khi về lại được với “cõi tịch lặng vô ngôn” hay “hư vô, hư không” đó chính là  “trở về với Phật tính trong cõi riêng mình. Ðó là quê hương, là chiếc ngai Phật. Tôi ngồi, Phật sẽ tràn ngập tôi và tôi sẽ tràn ngập Phật”.

Hãy cùng nghe thêm một câu nói rất hay của Ông.

"Có kẻ đứng trước bao la mà không thấy được bao la. Có kẻ ở buổi bình minh, nghe tiếng chim hót đã chạm mặt với cõi vô lượng. Biết được vô lượng là cùng lúc đến với vô biên. Cái vô biên nằm đâu đó trên cánh vạc chở hoàng hôn về núi mỗi chiều."

Và chắc không khó để nhận ra bóng dáng của chân lý qua những từ như vô lượng, vô biên. Vô lượng là chiều bao la của không gian và vô biên là chiều mênh mông của tĩnh lặng.

Chiều kích vô lượng, vô biên ấy của chân lý, ví như ngọc báu, cũng có sẵn trong mỗi người chúng ta: “Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch” (Trong nhà có ngọc không cần tìm kiếm nơi nào khác cả, thơ Trần Nhân Tông) hay “You wander from room to room, hunting for the diamond necklace, that is already around your neck” (câu này của Rumi, nhà thơ đạo sĩ Hồi Giáo, thế kỷ 13, tạm dịch : Chuỗi ngọc trên cổ rồi Tại sao lại không thấy Tìm phòng này phòng nọ Lòng vòng mỏi mệt thay).

Chân lý là gì? Chân lý ở đâu? Làm sao để nhận ra chân lý? Xin được nói thêm trong phần tiếp theo.

3.

Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa.
Mưa bay trong ta bay từng hạt nhỏ
Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ
Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà.

Về mưa, Trịnh cũng viết nhiều bài hay như Mưa Hồng với “Này em đã khóc chiều mưa đỉnh cao, còn gì nữa đâu sương mù đã lâu”, hay Diễm Xưa với “Mưa vẫn mưa bay cho đời biển động, làm sao em nhớ những vết chim di”, rồi Chìm Dưới Cơn Mưa với “Chìm dưới cơn mưa và chìm dưới đêm khuya, trời đất bao la còn chìm đắm trong ta”. Phải chăng mưa là một dạng “thời tiết” của cuộc đời, khi dịu mát, lúc lạnh băng?

Trong đoạn hai này của  Một Cõi Đi Về, cũng “mưa” nhưng là “mưa nơi này” và “mưa nơi xa”. Nghe mưa ở đây, hiện tại, lại nhớ về mưa nơi nào thuộc tương lai hay quá khứ? “Từng hạt nhỏ” là những suy tưởng trong tâm thức “mưa bay”? Chính những tiếng mưa vang vang mãi “trong ta” ngăn trở con đường “hội ngộ” với “vô biên” của “chốn quê nhà”?

“Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ”? “Trăm năm” là một kiếp người. Trăm năm này “tử” đến trăm năm khác “sinh”, trở đi trở lại trong vòng luân hồi “vô biên”, bất tận? Ý này cũng hợp lý nhưng chỉ nói đến thực trạng “không biết nhà để về” của một người lang thang.

Còn nếu sắp xếp lại để thành “Trăm năm chưa từng hội ngộ (với) vô biên” thì chiều kích “vô biên” của Đạo được “mở” rõ ràng hơn, như đã từng giải bình trong những phần trước, và người viết nghĩ đây chính là ý mà Trịnh muốn gởi gắm.

Còn nếu hiểu “Trăm năm vô biên” là sự vô biên của tuổi thọ đời người vốn vỏn vẹn “ba vạn sáu ngàn ngày là mấy” thì quả là vô lý. Quãng thời gian ngắn ngủi ấy không thể nói là vô biên, vô hạn được, sớm muộn gì thì cũng như “vết mực”, phải chấp nhận số phận “xóa bỏ không hay” thôi!

Trong thơ nhạc, do âm điệu, do giới hạn của câu chữ nên làm thế nào chỉ trong bao nhiêu nốt ấy, bao nhiêu chữ ấy, nhạc sỹ, thi nhân có thể chuyển được ý sâu là một điều không đơn giản. Đó là “nỗi khổ từng chữ, từng nốt” và cũng là yếu tố để quyết định tài năng!

Bài đăng trước có đề cập đến chiều kích vô biên, vô lượng của chân lý, giờ đây xin được bàn thêm.
Chân lý là gì? Là sự thật (truth). Sự thật thì có sự thật tuyệt đối (absolute truth) và sự thật tương đối (relative truth). Sự thật tuyệt đối là sự thật không bị chi phối bởi thời gian, vĩnh hằng, không thay đổi, không bị hoại diệt vì không có tuổi thọ. Sự thật tương đối là sự thật có tuổi thọ, chỉ tồn tại trong một thời gian nào đó (trăm năm, ngàn năm, triệu năm,…) rồi cũng phải chịu sự chi phối của định luật vô thường, sinh diệt, đổi thay, biến hoại.

Ở đây, tuy không dùng tính từ “đúng” khi nói đến chân lý, nhưng ý nghĩa “không bao giờ sai” vì “không bao giờ mất” cũng đã được hàm chứa. (“Đúng sai” là câu chuyện dài của loài người chẳng bao giờ kết thúc; sự thăng hoa, sự tuột dốc, nước mắt, máu xương, đã đổ quá nhiều như sông, như núi cũng từ hai chữ “đúng sai” này.)

Nếu thật ngắn gọn thì có thể nói thế này : Chân lý tuyệt đối là “cái-không-có-gì”, còn “chân lý tương đối” là “cái-có-gì”. “Cái không có gì” đó chính là “không gian” (space) và “cái có gì” là “vật thể” (objects). Vật thể là những gì có hình, có tướng, nổi lên, hiện ra, có thể biết được qua các giác quan, nhìn được, nghe được, ngửi được, nếm được, sờ mó được, suy nghĩ được. Còn không gian thì ẩn, chìm, vô hình, vô tướng, vượt ra ngoài sự hạn hẹp của ngôn từ nên chỉ có một cách duy nhất là “feel” thôi, cảm nhận trực tiếp bằng “trực giác” thôi.

Chân lý còn có một khái niệm khác đồng nghĩa là “thực tại” (reality). Đời sống của chúng ta nếu chỉ “nghiêng” về “thực tại tương đối” (relative reality) thì chắc chắn sẽ “ngả” vì thiếu sự quân bình, thiếu sự nâng đỡ của “thực tại tuyệt đối” (absolute reality). Đây cũng là một thảm trạng chung cho nhân loại.

Thế thì chân lý ở đâu? Câu trả lời là “Chân lý ở khắp mọi nơi” (God ,Truth, is everywhere), cũng giống như không gian vậy. Không gian bên ngoài là vũ trụ vô biên, dung chứa những tinh tú. Không gian bên trong là vũ trụ của tâm, dung chứa suy nghĩ, cảm xúc. Đại khái thế, không thể nói dài một sớm một chiều được, phải từ từ thôi.

Dầu chúng ta không thể nói được về không gian “không có gì”, nhưng có thể mượn những hình ảnh của “có gì” để nói về nó. Trên mỗi trang giấy, có phải nằm phía dưới những con chữ là nền trắng? Trên hư không, có phải ẩn sau những đám mây là màu xanh của bầu trời? Phía dưới dòng xe cộ, có phải là sự bất động của con đường? Có phải bất cứ ở đâu và khi nào, bao trùm chúng ta cũng là không gian và sự tĩnh lặng (cặp này luôn đi chung với nhau, không tách rời)?

 Phải chăng khi biết chú ý thêm chiều “tĩnh” của “cái-không-có-gì” giữa những chiều “động” của “cái-có-gì”, cách nhìn đời, cách cảm nhận cuộc sống sẽ được trọn vẹn hơn, nhất là nghe lại nhạc Trịnh? “Đôi chân ta đi sông còn ở lại”, “Núi đứng quanh năm, đất muôn đời nằm, riêng ta rộn ràng”, “đóa hoa vàng mỏng manh cuối trời”, “ôi áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều’,…rất nhiều những bức tranh có sự qua lại, linh động, trọn vẹn “âm dương”,”động tĩnh” như thế này.

4.

Trong khi ta về lại nhớ ta đi
Đi lên non cao đi về biển rộng
Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng
Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì.
Hôm nay ta say ôm đời ngủ muộn
Để sớm mai đây lại tiếc xuân thì.

“Trong khi ta về lại nhớ ta đi” là một câu nhạc của Trịnh có độ rung chấn không nhỏ, ai cũng thấy mình trong đó, hình như tình huống nào cũng “vận dụng sáng tạo” được. Sự ngập ngừng trên mỗi bước chân, sự dùng dằng giữa “Đường trần đâu có gì” và “Tiếng nói nhu mì của quê quán tôi xưa”, sự giằng co giữa “chén rượu cay một đời tôi uống hoài” và “vầng trăng quê cũ”. Ra đi thì lúc nào cũng nghe vang vang “Trăng ơi trăng rất tệ mày đi nhớ chóng về”, lâu lâu về nhà thì nghe thì thầm “Lòng thật bình yên mà sao buồn thế”.

“Trong khi ta về lại nhớ ta đi” cũng không khác “trong khi ta đi lại nhớ ta về”. Đây là tình cảnh “Đi về lận đận Tình đôi ngập ngừng” trong  Tiến Thoái Lưỡng Nan sau này.

“Đi lên non cao đi về biển rộng”? Những ai có tu thiền đều thích câu này. Tập cho tâm an trú trong hiện tại đưa nhưng “tâm viên ý mã” lúc nào cũng kéo ta “lên non cao” của quá khứ, “về biển rộng” của tương lai. “Vọng tưởng điên đảo” luôn luôn muốn đi đó đi đây “ta bà thế giới”, “ngoạn thủy du sơn”.

Về mặt từ ngữ, “Đi lên non cao đi về biển rộng” cũng có thể cảm nhận theo hai cách. Cách thứ nhất có thể đặt “non cao” cùng hướng với “biển rộng” chỉ con đường hướng ra ngoài sơn thủy, theo cách này thì “về” cũng là “đi”. Cách thứ hai, bẻ ngoặt hướng đối lập thì “non cao” chỉ bên ngoài, còn “biển rộng” chỉ bên trong. Nếu so sánh thuần về độ lớn thì rõ ràng biển rộng lớn hơn, chiếm ba phần tư quả đất, “quê nhà” rộng như biển bao giờ cũng bao la thanh bình hơn gấp nhiều lần mây nắng non cao, và hai chữ “về” trong hai câu “trong khi ta về” và “đi về biển rộng” đều chỉ một chuyển động cùng chiều.

Giữa hai chọn lựa “đi” “làm con sông cho tháng ngày trôi” và “về” “chốn thiên đường không có tháng ngày trôi” thì phần thắng luôn luôn cho nơi có tháng ngày. Dầu đôi khi thấy “Tôi như người bỗng lênh đênh giữa đời” (Ở trọ) nhưng “Dầu thật lệ rơi lòng không buồn mấy” (Bên đời hiu quạnh). Đây là một nét rất đẹp của Trịnh, đẹp vì thật, đẹp vì tin vào sự chọn lựa của mình, dầu biết rõ rằng trong quyết định “rong chơi giữa đời” vẫn không hoàn hảo. Nét ngay thẳng của “đại nhân” nằm chính chỗ này.

“Đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng”? “Nhân gian chưa từng độ lượng” thì ý rõ rồi, nhưng còn “đôi tay nhân gian”? “Đôi tay” của “nhân gian” hay lấy “đôi tay” mình để ôm cả “nhân gian”? Ý thứ nhất là một cách nhìn đời, ý thứ hai có trái tim mình trong cuộc đời đó. Xin lan man theo ý thứ hai.
Trong phần trước đã bàn về cái hữu hạn, hữu lượng tương đối của “nhân gian”. Dù “đường trần không có gì” (Phôi pha) nhưng lại là chốn “trần gian có xót xa” (Đóa hoa vô thường), và chốn ấy rất “cần một trái tim” (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui) và “cần có một tấm lòng” (Để gió cuốn đi).

Người ôm lấy muôn loài 
Nằm trong tiếng bi ai 
(Ngẫu nhiên)

Đường đời vốn thế, lấy “đôi tay” mình mà “ôm” thì giống như “ôm lòng đêm”, cuối cùng cũng “Ôi phù du từng tuổi xuân đã già đời người như gió qua” (Phôi pha) và “Đôi tay vẫn còn ôm mịt mùng” (Tình xót xa vừa) mà thôi. Làm sao có hạnh phúc thực sự giữa chốn “chưa từng độ lượng” ấy được.
Và “suốt xuân thì” chỉ thấy “ngọn gió hoang vu” nhưng vẫn “yêu quá đời này”, dẫu rằng nhiều khi “dấu lệ”.

Đoạn cuối này còn hai câu mang nỗi buồn cũng đậm, nhưng thôi, cứ để hương linh ông bây giờ “ôm thiên đường ngủ muộn”, “tiếc xuân thì” chỉ còn lúc vướng víu với nhân gian.

5.

   Mây che trên đầu và nắng trên vai     
Đôi chân ta đi sông còn ở lại
Con Tinh yêu thương vô tình chợt gọi   
Lại thấy trong ta hiện bóng con người.

Qua bốn câu nhạc này, chúng ta có thể thấy được lý do tại sao đưa đến sự giằng co giữa hai lực kéo Đi và Về trên con đường “lênh đênh giữa đời” của Trịnh. Là một con người bình thường vì trái tim cũng đập theo nhịp đời như bao người, nhưng cũng khác thường nhờ sức nâng của đôi cánh tâm linh đã đẩy ông bay lên khỏi một phần những tầm thường trong vòng tục lụy thế gian.

Có người nói rằng nếu Trịnh Công Sơn không bị níu lại bởi sợi dây ràng buộc của đời thường thì rất có thể Ông sẽ trở thành một thánh thi sĩ như Tagore của Ấn Độ hay Rumi của Ba Tư. Hai nhà thơ rất được tôn kính, những lời minh triết xưa của họ thường được nhắc đến trong cộng đồng tâm linh trên toàn thế giới, đặc biệt ở phương Tây.

Hơn ai hết, Trịnh cũng biết được giới hạn của mình, điều này có lẽ không khó nhận qua những lời ca Ông viết “Đởi tôi trót dại tự làm khô héo tôi đây” (Chiếc là thu phai). Và cũng chính biết rõ mình như thế đã làm tăng thêm giá trị của ông: một người sống giữa đời, dù có buồn có khổ, nhưng vẫn sống hết lòng bằng trái tim đạo, đầy thương yêu.

“Mây che trên đầu và nắng trên vai”? Ánh sáng “chân như” chiếu “rọi suốt trăm năm” nhưng chỉ xuống được phần vai, phần đầu vì bị mây che không tới được. Hệ lụy nhân gian làm ánh sáng không trọn vẹn, toàn phần. Trong kinh Phật, hình ảnh “trăng thoát khỏi mây” thường dùng để nói đến kinh nghiệm chứng ngộ được sự thật, thấy được “bản lai diện mục” (bộ mặt xưa nay) của chính mình. Bộ mặt này qua ca từ của Trịnh là “quê quán xưa”, “vầng nhật nguyệt”, v.v.. mà chúng ta đã từng nói đến.

“Đôi chân ta đi sông còn ở lại”? Dòng sông xuất hiện rất nhiều trong di sản ca khúc của Ông, mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Đẹp và lạ như tranh trong “con sông là thuyền mây xa là buồm”, “Những dòng sông nối đôi tay liền với biển khơi” (Bốn mùa thay lá), trầm ngâm triết lý như “Ngồi bên dòng sông nhớ đời mình, một trăm năm sau mãi ngủ yên” (Lời của dòng sông)… Nhưng trong Một Cõi Đi Về, với một chủ đề xuyên suốt chặt chẽ, thì có lẽ ý nghĩa “cội nguồn” là hợp lý nhất.

Về chiều sâu tâm thức, phải chăng “đôi chân ta đi” là “động”, vọng tưởng, vọng tâm … “sông còn ở lại” là “tĩnh”, là cội nguồn, là chân tâm, minh tâm…Có “cái biết” sáng tỏ, im lắng đang “thấy” những bước chân đi?

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng có một câu nói về ý này nhưng dùng hình ảnh “mái nhà” thay vì “sông”:

"Rứt bỏ mái nhà để ra đi cũng như phụ rẫy một tình yêu. Mái nhà ở lại hoàn toàn vô tội. Mái nhà vẫn chờ cửa để đón người trở về nhưng người ra đi thì không bao giờ kéo được mái nhà về với mình nữa. Có được một mái nhà riêng trong lúc sống là một hạnh phúc. Nhất là mái nhà ấy là hình ảnh của chính mình."
  Mái nhà cũng như sông vẫn ở lại đó, êm đềm yên lặng, chờ đợi “trăng lãng du” trở về mà sao đôi chân mãi cứ ra đi?

Lý do đây: Con tinh yêu thương! Dù Trịnh có lần giải thích lý do ông dùng chữ “yêu tinh” là vì ở Huế, người thân hay mắng yêu mấy cô gái nhỏ, xinh đẹp, nghịch ngợm là “đồ yêu tinh”. Nhưng cách giải thích này chỉ hé mở một phần, phần lớn còn lại chính là Ông muốn ám chỉ “tình yêu nam nữ” hay rộng hơn là dục vọng hay khát ái của con người. Điều này cũng đã được hát lên trong Giọt Lệ Thiên Thu: “Nắng quái yêu ma, lung linh thành trì, lung linh cửa nhà”. Yêu ma hay yêu tinh thì cũng là “yêu”. Đang “rong chơi giữa đời”, quanh mình toàn là người bình thường, yêu xuống yêu lên, nếu nói trắng ra, sao tránh khỏi phiền lòng thiên hạ! Hơn nữa, mình đâu phải thầy tu mà “hạ giá” điều mà mọi người xem trọng, ngay cả mình cũng chưa thoát được ngọt đắng của nó kia mà.

Tình yêu vẫy gọi, tình bạn, tình đời, đủ thứ tình. Bên tai vẫn loáng thoáng tiếng “chợt gọi vô tình” của “con người hiện bóng”. Lại ra đi, chán. Lại đi về, buồn.

6.

Đường chạy vòng quanh, một vòng tiều tụy  

 “Vòng quanh” “tiều tụy” cũng giống như “loanh quanh mỏi mệt”. Thử thay đổi một chút thành “chạy quanh đường vòng”, nghe cũng hay hay. “Chạy quanh”, tốc độ nhanh hơn, mạnh hơn “đi đâu loanh quanh”. “Tiều tụy” cho ta cảm giác héo, hốc hác hơn “mỏi mệt” rất nhiều, mỏi mệt chỉ đổ mồ hôi còn tiều tụy rất rõ sự hết “pin”, mỏi mòn nhựa sống.

 “Đường vòng” gợi đến sự cong cong, một đường cong khép kín, tịt lối thoát, bí lối ra. “Kiến bò quanh đĩa” hay “cái vòng danh lợi cong cong, kẻ hòng thoát khỏi người mong bước vào” là những câu rất Việt không lạ. Bi kịch của thân phận người bị bao vây bởi “cái vòng” này, phải nói là “mê hồn trận” cho thêm phần kịch tính. Danh lợi ở đây chỉ là một phần ý nghĩa của “cỏ non”, “cỏ lạ” trong bài hát này.

Xin nói thêm tí về danh lợi , sẽ bàn tiếp “cỏ” sau. Nghe hai từ này, thông thường ta hay nghĩ đến sự thăng quan tiến chức, bổng cao lộc lớn, chức trọng quyền cao Nhưng trong thực tế, nếu quay ngược nhìn kỹ lại mình, sẽ cảm được ý nghĩa rộng gần hơn của câu này, cũng dành cho mọi chúng ta. Danh là tiếng thơm, tiếng tốt, ai chẳng thích được khen. Lợi liên quan đến tiền, ai chẳng muốn mình có tiền, càng nhiều càng tốt, lòng ham muốn chẳng bao giờ khiêm tốn cả. Và như thế, cứ đi loanh quanh, cứ chạy vòng vòng, miệt mài đuổi bắt, khó dừng nên không mệt mỏi, không tiều tụy mới là chuyện đáng ngạc nhiên.

Trong triết lý Phật Giáo, vòng luân hồi sanh tử được giải thích bằng Thập Nhị Nhân Duyên, một “đường vòng” mà trong đó chúng sanh vẫn “chạy”, chạy tới chạy lui, chạy lên chạy xuống. Vòng này khởi đầu bằng Vô Minh, sau đó là Hành, Thức, Lục Nhập, Xúc, Thọ, Ái, v.v.. Bởi Vô Minh nên bị Tham Sân Si dẫn dắt, lăn trôi, chìm đắm mãi giữa “tiều tụy” của khổ đau.

Theo ý này thì chắc không “quá đáng” khi hát “chế” hai câu đầu: “Bao nhiêu kiếp rồi còn mãi ra đi Lăn trôi loanh quanh luân hồi mỏi mệt”.

Và muốn thoát ra khỏi “đường vòng” này cần phải thấy được Minh, ánh sáng của “đôi vầng nhật nguyệt” (Trong tiếng Hán, khi ghép Nhật và Nguyệt sẽ thành Minh).

7.

Một bờ cỏ non một bờ mộng mị ngày qua.

“Cỏ” cũng là một từ đẹp trong vườn Trịnh, chỉ phận người như “Ta thấy em trong tiền kiếp như cọng buồn cỏ khô” (Rừng xưa đã khép), “Sống chết mong manh như thân cỏ hèn mọc đầy núi non” (Giọt lệ thiên thu). Ý này cũng có trong Kinh Thánh: “Đời sống con người chẳng qua như cỏ, như bông hoa nở giữa cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó mất đi, nơi nó mọc sẽ không còn mang vết tích”.
 Nhưng trong Một Cõi Đi Về, ý nghĩa của “cỏ non” chỉ “cám dỗ của thế gian” nếu nói theo Ki-tô, hay “quyến rũ của dục lạc” nếu nói theo Phật thì hợp lý hơn vì nó giải thích được lý do tại sao lại “đi quanh, chạy vòng” để phải bị đuối.

Cám dỗ gì? Quyến rũ gì? Mắt đi tìm hình ảnh đẹp, tai đi tìm tiếng hay, mũi đi tìm mùi thơm, lưỡi đi tìm vị ngon, thân đi tìm sự xúc chạm êm ái, ý đi tìm suy tưởng mới. Mà phải “non”, “tươi”, “lạ” mới thỏa mãn hài lòng. Có bao nhiêu người hiểu được rằng đây chỉ là “mộng mị” phù du ? Ngày hôm qua đẹp, hay, thơm, ngon, mới lạ, êm ái biết bao, sao hôm nay tất cả bay đâu mất rồi. Lại khát nữa, lại đi tiếp, laị chạy tiếp. Và như thế, ngày qua… ngày qua…

Còn “bờ”, hãy nghe lại câu nói của Trịnh.

"Bờ bến của một cuộc tình cũng không phải hẹp đâu. Có biết bao nhiêu kẻ đã bị dìm chết giữa giòng để mãi mãi không đến được bờ bên kia. Kẻ đã đến được bờ bên kia rồi, khi quay nhìn lại sẽ thấy rất rõ, sẽ nhận thức được mọi thất vọng, khổ đau đã qua đều là giả tạo, phù phiếm. Và bỗng nhiên một nụ cười thanh thản bỗng nở ra. Một khi đã qua được bờ bên kia rồi tất cả sẽ thấy lòng mình tràn ngập một nỗi hân hoan lạ thường và từ đó cái nguồn cội của khổ đau không còn lừa gạt ta được nữa..." 

Câu này ý tứ sâu, không đi vào ở đây, trích dẫn để hình dung rõ hơn triết lý Phật về bờ mê, bến giác đã ảnh hưởng thế nào đến tư tưởng của Trịnh thôi. Như vậy, là có bờ bên này và bờ bên kia. Bến bờ này cũng có mặt trong nhiều câu hát: “Như bờ xa nước cạn đã chìm vào cơn mưa” (Tình nhớ) hay “Bờ xa cỏ dại vô thường nhớ em” (Em đi bỏ lại con đường)…Bờ xa bên kia thì không mộng mị như bờ gần bên này, bờ bên kia là bờ giác, bờ bên này là bờ mê. Bờ bên này cỏ non nhiều nên giả tạo, phù phiếm, bờ bên kia chỉ có nụ cười thanh thản và nỗi hân hoan.

8.

Từng lời tà dương là lời mộ địa    
Từng lời bể sông nghe ra từ độ suối khe.

Hai câu này là một ý với “Dưới vành nôi mọc từng nấm mộ” (Cỏ xót xa đưa) hay rõ hơn là “Cụm rừng nào lá xác xơ cây, từ vực sâu nghe lời mời đã dậy, ôi cát bụi phận này ,vết mực nào xóa bỏ không hay” (Cát bụi). Đây là lời cảnh báo của vị thiên sứ hầu như chẳng ai muốn nghe dù trước sau cũng phải đối diện : Thần Chết.

Tà dương là ánh mặt trời sắp lặn, mộ địa là nấm mồ. Tà dương mộ địa, từ Hán Việt, dùng trong câu này quả rất hay, Ông là người yêu ca dao, yêu tiếng Việt, chúng ta khi nghe Trịnh đều yêu thêm tiếng nước mình. Thỉnh thoảng trong túi có móc ra vài từ không thuần Việt nhưng đặt chữ nào xuống là đắc chữ đó, như “tiến thoái lưỡng man”. Không phải làm khó người nghe mà chỉ với ý làm tăng thêm độ sâu của bài hát.

Nếu “nắng vàng” xuất hiện lung linh buồn, thanh thoát nhẹ thì  “tà dương” gợi lên một không gian cổ điển u trầm, làm ta không thể không nhớ đến “Trải bao thỏ lặn ác tà” và “Bóng tà như giục cơn buồn” của Nguyễn Du, “Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà” của Bà Huyện Thanh Quan, hay độc đáo linh động của Tản Đà với "Cỏ vàng cây đỏ bóng tà tà dương". Lời tà dương của Trịnh nặng trầm hơn vì bên cạnh là âm hưởng lạnh lạnh của mộ địa.

“Từng lời bể sông nghe ra từ độ suối khe”? Lại gặp lại dòng sông, lần này tiếng hát của sông vang vọng lên, một bên là biển, một bên suối khe, đây là hình ảnh “Những dòng sông nối đôi tay liền với biển khơi” trong Bốn Mùa Thay Lá. Từ nơi bắt đầu của một dòng chảy đầu nguồn là khe, hòa vào suối, nhập vào sông, cuối cùng ra biển cả. Một sự khởi đầu của “vành nôi” chào đời và kết thúc của “nấm mộ” ngủ yên.

Nếu ví đời người như một cuốn sách 36.000 trang, mỗi trang được lật qua là thêm một trang tiến gần về chương cuối. Cũng vậy, mỗi lần hoàng hôn rơi….

9.

Lời nào của cây, lời nào cỏ lạ    
Một chiều ngồi say một đời thật nhẹ, ngày qua.
Vừa tàn mùa xuân, rồi tàn mùa hạ   
Một ngày đầu thu nghe chân ngựa về chốn xa.

“Cây” là cây của sự sống (tree of life) như đã từng gặp trong Cỏ Xót Xa Đưa: “Trên đời người trổ nhánh hoang vu, trên ngày đi mọc cành lá mù”. Cây mang tính gốc rễ vững chắc, từ đó cành, nhánh, lá vươn ra. Cành, nhánh có thể là những liên hệ bên ngoài của ta trong cuộc đời, cũng có thể là suy nghĩ, cảm xúc bên trong nội tâm.

Nhưng nếu theo ý này thì không chặt lắm khi “cây” đi cùng với “cỏ lạ”. Cỏ lạ chỉ “lạc thú trần gian” khi ta đi loanh quanh, chạy vòng quanh như đã nói trong bài trước thì “cây” phải mang nghĩa ngược lại thì ý mới sống động. Theo hướng tâm linh này thì cây giác ngộ (tree of enlightenment) hợp lý hơn vì bản thân cây này cũng đã hàm chứa ý nghĩa “đôi vầng nhật nguyệt” trong sáng, có hoan lạc, bình an thật sự, chứ không giả tạm, nhất thời như “lạc thú” của “cỏ lạ” hời hợt, chóng tàn.

“Một chiều ngồi say” là một cách nói khác của “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”, say vì yêu bông hoa, nụ cười, yêu nắng đầy, mưa tới … (chắc là cũng có rượu). Yêu ngất ngây nhẹ nhàng tất nhiên sẽ hưởng được nguồn vui của “một đời thật nhẹ”, cứ “ngồi thong dong trao đến mọi loài chút tình tôi”.
Thời gian trôi, tháng ngày trôi, mặt trời lên rồi xuống, nắng đến rồi phai, tàn xuân, tàn hạ. Rồi sẽ đến khúc cuối đời, nghe tiếng lộc cộc chậm buồn tiếng chân ngựa về để đón đưa. Một lần nữa hình ảnh “ngựa” lại xuất hiện, không xa vắng như “nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng” trong Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên, không say buồn như “Một ngày như mọi ngày, giọng buồn lên tiếp nối, một ngày như mọi ngày, xe ngựa về ngủ say” trong Một Ngày Như Mọi Ngày.

“Chân ngựa về chốn xa” là văng vẳng tiếng của chuyến xe thổ mộ đưa quan tài về đất trả lại cho cát bụi. Thổ là đất, mộ là mồ, thổ mộ là nấm mồ đất. Mộ địa âm buồn bên ánh tà dương.

10.

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt 
Rọi suốt trăm năm một cõi đi về

Một lần nữa, hãy đọc lại những tâm sự Trịnh đã để lại “Có những ngày tháng tôi đã bỏ mình vào một cõi tịch lặng vô ngôn để thử nhìn lại rõ mình hơn, nhưng vô vọng”. Ông đã thao thức nhiều trên con đường tìm lại “bản chất chân thực” (real nature) của mình. Đó cũng là thao thức chung cho những ai muốn thoát khỏi cảnh phù du, tạm bợ của hạn hẹp nhân gian.

Ông biết rằng có một cái gì cao cả hơn, an bình hơn nằm sâu bên dưới tâm thức bình thường, tĩnh lặng tựa đáy đai dương bao la: “Và tôi đã tìm đến với thế giới của im lặng và hội họa. Ở đây, tôi đã bắt gặp một mảng đời của mình bấy lâu nay vẫn còn bị che dấu. Chính ở trong cõi màu sắc này, tôi đã chạm vào được cái chìa khóa để mở dần những cánh cửa vô thức của bản thân mình.”

 “Mảng đời của mình vẫn còn bị che dấu” được gọi là “một cõi đi về” mà ông đang khát khao tìm kiếm. Chạm được “chìa khóa”, thấp thoáng “cánh cửa” nhưng chiều sâu “vô thức của bản thân” thì “bó tay”, “vô vọng”. Cánh cửa “vô lượng, vô biên” hé chút chợt sầm đóng lại, rồi lại tiếp tục tới lui với đôi cánh là đà bay lượn giữa đời lênh đênh.

Dù vậy, ông vẫn tự nhủ “Hãy biết đi tìm, nhẫn nhục tìm kiếm sẽ có ngày thấy được. Dù ở đâu. Từ trong một hạt bụi đến cõi trời bao la. Từ cái sờ mó được đến cõi vô hình”. Nghe câu này, chúng ta không thể không nhớ một câu trong Kinh Thánh “hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ gặp, hãy gõ thì sẽ mở cho” (Matthew 7:7).

Phải chăng “cõi đi về” mà Trịnh muốn tìm, muốn hỏi, muốn gõ ấy chính là “cõi trời bao la” và “cõi vô hình” như ông đã nói? Những tự sự sâu kín “tự mình biết riêng mình Và ta biết riêng ta” ám ảnh Trịnh suốt một đời về “nguồn cội”. Những “giọt lệ long lanh” cùng “nụ cười đắng ngọt” đã làm rung động chúng ta qua những câu chữ, nét nhạc. Lúc bay bổng vui tươi. Lúc trầm lắng sâu buồn.

Nghìn dâu cố quận muôn trùng nhớ em 
(Em đi bỏ lại con đường)
Rồi một lần kia khăn gói đi xa 
Tưởng rằng được quên thương nhớ nơi quê nhà
(Bên đời hiu quạnh)

Tấm lòng hướng về “vầng nhật nguyệt” mà đôi khi được gọi là  “bờ xa” cũng lung linh trong nhiều tình khúc: “Ôi áo xưa lồng lộng, đã xô dạt trời chiều, như bờ xa nước cạn, đã chìm vào cơn mưa” (Tình nhớ). Chúng ta cũng hình dung thấy “bờ xa bên kia” đôi khi nhạt mờ khuất bóng. Sương khói cuộc đời không thể đưa ông qua bờ với nước cạn lòng sông.

oOo


Thứ Bảy, 19 tháng 12, 2015

GIÓ ĐỜI HƯƠNG ĐẠO_LỜI NÓI ĐÂU


GIÓ ĐỜI HƯƠNG ĐẠO
Chiều kích tâm linh trong nhạc Trịnh Công Sơn



https://www.youtube.com/watch?v=PEsNodvKGeE&feature=youtu.be

Mục lục

Lời nói đầu   
Một Cõi Đi Về  
Đóa Hoa Vô Thường   
Em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh   
Lặng lẽ Nơi Này   
Nỗi Buồn Xin Lỗi Bàn Tay    
Phôi Pha   
Ru Ta Ngậm Ngùi   
Em hãy ngủ đi    
Ru Tình   
Môi Hồng Đào   
Phụ Lục  


LỜI NÓI ĐẦU

Trên bầu trời âm nhạc Việt Nam, Trịnh Công Sơn đã, đang và chắc chắn sẽ là một ngôi sao sáng mãi. Những bài hát bất tử về “quê hương, tình yêu và thân phận” của “người hát rong qua nhiều thế hệ” này vẫn mãi là nguồn cảm hứng bất tận cho những tâm hồn yêu thích chiều sâu triết lý nhân sinh, muốn tìm được ý nghĩa và mục đích sống đích thực.

Khi nói đến “quê hương”, ngoài tiếng khóc, tiếng cười dành cho sự trầm thăng của đất nước, chúng ta còn thấy một “quê quán”, “quê nhà” rất lạ nơi nhạc của ông. Về “tình yêu” cũng vậy, dễ hiểu, dễ cảm như “tình yêu như trái phá, con tim mù lòa” nhưng cũng rất độc đáo với những câu hát lạ như “ ru em là cánh nhạn miệng ngọt hạt từ tâm” hay “yêu em yêu thêm tình phụ, yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ”, v.v.. Về “thân phận”, nếu là “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi” thì không có gì phức tạp, nhưng “ôi cát bụi tuyệt vời mặt trời soi một kiếp rong chơi” hay “trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, rọi suốt trăm năm một cõi đi về” thì quả tình không đơn giản. Phải chăng những điều lạ kỳ “không giống ai” này chính là nỗi niềm riêng suốt một đời trăn trở trong trái tim của Trịnh? Vẫn tự tại ung dung khi “thanh thản trong sự cô đơn của chính mình”, nhưng đồng thời cũng đầy khắc khoải trên bước độc hành, khoác trên vai “một điều giấu kín”. 


Điều giấu kín là điều gì? Tại sao phải giấu kín? Có giấu kín hoàn toàn không? Có thể nói dù Nhạc sĩ muốn giấu nhưng đồng thời cũng muốn mở, chúng ta vẫn có thể cảm nhận rất rõ phần nào tâm sự đó khi nương theo một số “đầu mối” nơi ca từ, cùng tùy bút đã để lại của ông . Từ đó, “bí mật” đã được “bật mí” một phần. Tập sách này được soạn như một cố gắng nhỏ đi vào những đầu mối như vậy.


Những ai thực sự hiểu về đạo, về thiền đều biết rằng có sự khác biệt rất lớn giữa tâm linh và tôn giáo. Tôn giáo (religion) là hệ thống tín ngưỡng, kinh điển, nghi thức; Còn tâm linh (spirituality) là tìm về với bản thể chân thật (true self, real nature), với Phật tánh (Buddha-nature) hay bản chất Thượng đế (God-nature) vốn có sẵn trong mỗi người chúng ta. “Phật tại tâm” (Buddha at mind) hay “Chúa ở cùng chúng ta” (God be with you) là những câu rất quen thuộc nói đến điều này.


 Bản thể chân thật của Tâm, tùy theo truyền thống, được gọi theo nhiều cách: Tâm vũ trụ (cosmic mind, universal mind), Tâm bầu trời, Tâm đại dương (Mind is like vast sky or vast ocean)  v.v…Riêng trong Phật giáo, Chân Tâm hay Minh Tâm (real mind) thường nghe như “Trực chỉ chân tâm”, “Minh tâm kiến tánh”, là thuật ngữ của truyền thống phương Bắc (Bắc tông), Tâm Chói Sáng (luminous mind) là cách nói theo truyền thống phương Nam (Nam tông) như trong đoạn kinh sau đây: “Tâm này là sáng chói. Và tâm này bị ô nhiễm bởi các cấu uế từ ngoài vào. Kẻ phàm phu ít nghe, không như thật rõ biết tâm ấy, nên không tu tập tâm ấy. Tâm này là sáng chói. Và tâm này được gột sạch các cấu uế từ ngoài vào. Bậc có trí nghe nhiều, như thật rõ biết tâm ấy, nên có tu tập tâm ấy.” Như vậy, “Minh tâm kiến tánh” hay “Tâm chói sáng thì thấy được thực tướng của các pháp” đều cùng một ý nghĩa, không khác nhau!


Và muốn “biết và thấy” được bản chất thanh lương, thuần khiết này, phải tìm hiểu kinh sách một cách thông minh từ những lời dạy của thánh nhân xưa đã trao truyền lại, phải sáng suốt phân biệt đâu là “ngón tay” qui ước của ngôn từ, đâu là “vầng trăng” vô tướng, vô ngôn. Mục đích chính của mọi truyền thống chân chính gặp nhau ở điểm này: hướng về một thực tại tuyệt đối duy nhất, sự rỗng không của vạn pháp. Nói theo cách của Trịnh là “tìm thấy được mình ở vẻ nguyên vẹn của nó”.


Trịnh Công Sơn là một người có kiến thức rộng về tôn giáo. Trong di sản ca khúc của mình, những ca từ như Chúa, thiên đường, địa đàng, giáo đường v.v…thuộc Ki-tô giáo và chân như, vô vi v.v… thuộc Phật giáo đều cùng nhau xuất hiện song song. Theo người viết hiểu thì “vẻ nguyên vẹn” vừa đề cập đến ở trên, khi đi vào âm nhạc, đã trở thành “môi thiên đường”, “vườn địa đàng” hay “trăng vô vi”, “vầng nhật nguyệt”, “cõi đi về” mà chúng ta thường nghe tới. 


Nếu tôn giáo là cây cầu để khai mở tâm linh, thì Phật giáo chính là một cây cầu đẹp nhất và quen thuộc nhất với Trịnh: “Tôi đang cố gắng quên Phật giáo như một tôn giáo. Tôi muốn đó là một thứ triết học siêu thoát mà ai cũng cần phải học, ngay cả những người thuộc tôn giáo khác. Mỗi người phải nỗ lực để xây dựng cho bằng được một ngôi chùa tĩnh lặng trong lòng mình và nuôi lớn Phật tính trong chính bản thân thành một tượng đài vững chắc. Nó sẽ giúp cho ta nhìn thế giới khác đi, nhìn cuộc sống khác đi. Với tôi, Phật giáo là một triết học làm cho ta yêu đời hơn chứ không phải làm cho ta lãng quên cuộc sống.”


Phải chăng “ngôi chùa tĩnh lặng” và “tượng đài vững chắc” đó chính là “quê hương” “một cõi đi về” của Ông? Chắc là thế, vì có lần Trịnh đã trả lời một cuộc phỏng vấn: “Tôi không quan niệm tìm đến với Phật mà là trở về với Phật tính trong cõi riêng mình. Ðó là quê hương, là chiếc ngai Phật.” Như vậy, không khó để giải đáp cho câu hỏi “Phải chăng trở về với Phật tính vốn yên lặng, rỗng không cũng chính là hoài bão một đời của Trịnh?”.


Dù lòng thương luyến cuộc đời náo động có khi làm ông không được lắng yên, nhiều lúc phải buông tiếng thở than “một cõi bao la ta về ngậm ngùi” hay “ta nghe tịch lặng rơi nhanh dưới khe im lìm”. Nhưng là một thiền nhân, Ông cũng biết rằng “phục bổn hoàn nguyên”, về lại cội nguồn là một cuộc hành trình dài, không thể “đến bờ kia” chỉ trong một kiếp sống. 


Hãy cùng nghe thêm lời Trịnh về chiều kích vô lượng của tĩnh lặng và vô biên của không gian: "Có kẻ đứng trước bao la mà không thấy được bao la. Có kẻ ở buổi bình minh, nghe tiếng chim hót đã chạm mặt với cõi vô lượng. Biết được vô lượng là cùng lúc đến với vô biên. Cái vô biên nằm đâu đó trên cánh vạc chở hoàng hôn về núi mỗi chiều."  Câu này Ông đã viết trong tùy bút Mở Theo Lời Điệu là những thông điệp thật thâm thúy, chỉ một người hiểu được cốt tủy của Đạo mới có thể nói được. 


Đạo vốn bao la. “Vũ trụ lớn” bên ngoài được bao trùm bởi không gian và tĩnh lặng, cũng không khác gì với “vũ trụ nhỏ” bên trong thân tâm mỗi con người, vốn tĩnh lặng và trống rỗng như hư không. Ngoài sao trong vậy! Trịnh là người có nhiều kinh nghiệm sâu sắc trên con đường khám phá vũ trụ nhỏ vô lượng, vô biên của riêng mình, như Ông đã từng hát “Tôi đang lắng nghe im lặng đời mình Tôi đang lắng nghe im lặng của tôi”. 


Im lặng hay Tĩnh lặng là tính chất của Đạo. Đạo là gì? Tính chất của Đạo ra sao? Làm sao để thấy được Đạo?. Những vấn đề này sẽ được giải bày dọc theo phần nội dung của sách.


Trên đường trở về với Phật tính, không thể không đề cập đến phút giây hiện tại, là cốt lõi mà mọi phương pháp thiền tập đều nhắm tới. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là người đọc nhiều, từng say mê với thuyết hiện sinh của triết học Tây phương nhưng cuối cùng đã nói: “Bậc thượng thừa của hiện sinh chính là ông Phật. Tại vì Phật dạy ta phải thức tỉnh trong từng sát na của cuộc sống”. Phật khi xưa đã từng nói về sự kỳ diệu của phút giây hiện tại như thế nào mà Trịnh xem Phật như là “bậc thượng thừa của hiện sinh”?.  Câu Phật ngôn nổi tiếng sau đây có thể trả lời cho câu hỏi này: "Quá khứ không truy tìm Tương lai không ước vọng, Quá khứ đã đoạn tận, Tương lai lại chưa đến, Chỉ có pháp hiện tại,  Tuệ quán chính là đây". 


Nhưng “cuộc hành trình về quê” có những khó khăn, trắc trở gì mà không ít lần Trịnh đã thốt tiếng thở than: “Đời tôi ngốc dại tự làm khô héo tôi đây” hay “như là chim xa đàn, giấu nỗi buồn trong cánh” .v..v…? Có phải “tám ngọn gió đời” đôi khi làm cánh chim kia “cuồng phong cánh mỏi”, hương đạo “vàng phai”?.


Gió Đời Hương Đạo chỉ là những dòng tản văn theo cảm hứng nên khó tránh khỏi chuyện lan man, lỏng lẻo. Bên cạnh đó, cũng mong được người đọc lượng thứ luôn cho việc không chú thích, dẫn nguồn thường thấy trong các khảo luận, nghiên cứu.


Dù sức hiểu và sức cảm vẫn chưa sâu, nhưng để bày tỏ tình cảm và lòng tri ân dành cho một nhân tài Việt, người viết xin được mạo muội trình bày những kiến giải chủ quan của mình về ca từ và ý tứ trong một số ca khúc đẹp, sâu và lạ của Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. 

Kính mong nhận được sự đồng cảm, khích lệ và góp ý chân thành từ bạn đọc gần xa yêu quý dòng nhạc Trịnh. 

Kính bút,

Cuối 2015
Minh Tuệ Đỗ Minh

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2015

TỪ BI HỈ XẢ

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM 
(Từ Bi Hỉ Xả)
Ayya Khema
Diệu Linh Lý Thu Linh dịch Việt

Trong mỗi chúng ta có bốn người bạn tốt (tứ vô lượng tâm), sẳn sàng giúp đỡ ta. Tuy nhiên cạnh đó ta cũng có năm kẻ thù (năm triền cái) chực chờ nhảy ra tấn công bất cứ lúc nào. Chúng không bao giờ để ta yên. Nhưng vấn đề là có mấy ai trong chúng ta đủ sức mạnh để đánh đuổi kẻ thù, bảo vệ cho những người bạn tốt của mình. Lại có người còn không biết rằng đó là việc tốt, nên làm.
Bốn người bạn đó là bốn tánh tốt của ta: Từ, Bi, Hỉ và Xả. Ta phải tìm kiếm chúng trong tim mình. Nếu không thể tìm ra, và tự biết đó là một thiếu sót của mình, ta phải bắt đầu lo tạo ra chúng, phát triển chúng.

 1. TỪ

Ngôn từ thật nguy hiểm. Chúng tạo cho chúng ta một cảm giác của sự trường tồn, bất biến. Chúng ta bị phủ lấp bởi ngôn từ, nhưng chúng chẳng khác gì hơn là những khái niệm. Chúng không có thật. Hãy tưởng tượng ra một dòng sông: danh từ ‘dòng sông’ không phải là thực thể của một dòng nước chảy. Từ ‘dòng sông’ cố định: nhưng bản thể của dòng sông thì lưu chuyển. 
Từ tâm chỉ có thể xuất phát từ trái tim. Tâm Từ sẽ trở nên trống rỗng, vô nghĩa, nếu nó chỉ nằm trong ngôn từ. Tự nó không có nghĩa gì, giống như từ ‘dòng sông’ sẽ gợi cho ta một cái gì đó, khi ta đã kinh nghiệm qua. Nếu ta bảo với một đứa trẻ thơ về ‘dòng sông’, nó không biết ta nói gì. Nhưng nếu bạn bỏ tay em xuống nước, để em cảm nhận dòng nước chảy, thì em sẽ thật sự biết dòng sông là như thế nào, không kể em có biết đến danh từ ‘dòng sông’ hay không.
Đối với Tâm Từ cũng thế. Danh từ ấy không có nghĩa gì. Chỉ khi nào bạn cảm được nó từ trong tim mình, thì bạn mới hiểu những điều Phật đã nói về tâm Từ trong các bài thuyết pháp của Ngài. Cuộc đời sẽ thiếu sót biết bao khi không chứa đựng cả lý trí và tấm lòng. Nếu chỉ sống bằng trái tim, con ngưòi dễ trớ thành tình cảm, một bản tính thường được đồng hóa với người phụ nử. Tình cảm có nghĩa là ta phản ứng với mọi thứ, điều đó không tốt. Lý trí cũng có chỗ đứng của nó. Con người cũng cần hiểu những gì xảy ra quanh họ. Nhưng nếu chỉ hiểu với cái đầu, nó có thể vượt bực về kiến thức, nhưng con tim sẽ thiếu đồng cảm. Tình và lý phải luôn đi đôi với nhau. Ta phải hiểu bằng lý trí và phải dùng tình cảm một cách khôn ngoan. Tràn đầy tình cảm, mang đến sự an lạc và hoà đồng cho trái tim. 

Lòng Từ hay tình thương, không phải là tình cảm tạo nên bởi sự có mặt của một người dễ thương, hay vì ta đang sống bên cạnh những người thân của mình, hay một người đáng yêu. Uy quyền hay những phản ứng bản năng cũng không liên quan gì đến loại tình cảm nầy. Yêu thương con cháu của mình, yêu thương cha mẹ mình không khó khăn gì. Phần đông chúng ta đều làm được, trừ một số ít. Nhưng tình thương đó không phải là tâm Từ (Metta).

 Khi Phật nói về tâm Từ, Ngài muốn nói đến thứ tình cảm không có sự phân biệt trong trái tim. Tình cảm cao thượng đó đòi hỏi chúng ta phải yêu thương tất cả mọi người như thể người mẹ yêu thương đứa con duy nhất của mình. Tất cả những ai có con sẽ biết được sự khác biệt khi họ yêu thương con mình và con người khác. Nhưng đó chính là điều ta phải sữa đổi. Nếu không, ta khó thể hiểu về lòng Từ và sự quan trọng của nó.

Nếu bạn thấy một em bé bị té xe, ngồi khóc. tự nhiên là ta sẽ đỡ em dậy, dổ em. Lòng Từ đó cũng không khó thực hiện. Khó là sự thể hiện lòng Từ trong tâm ta với tất cả mọi người, kể cả những kẻ đáng ghét nhất. Không phải tất cả chúng ta đều dễ thương, trừ các bậc A-la-hán. Ngay chính ta cũng không hoàn toàn dễ thương, thì sao lại mong mỏi điều đó ở người khác. Tại sao ta phải phân biệt giữa những người ta có cảm tình và người ta không ưa. Chúng ta tự cho mình có lý khi không ưa những người mà theo sự đánh giá của chúng ta, họ đã hành động sai quấy. Nhưng ngay chính ta, đâu phải lúc nào ta cũng hành động đúng. Suy cho cùng trong chúng ta có ai không từng làm những chuyện đáng hối tiếc. Tôi không biết về bạn, nhưng chỉ cần soi lại chính mình, tôi cũng hiểu bạn thế nào. Ai cũng lầm lổi, thì tại sao lại đòi hỏi người khác phải hoàn toàn, muốn người khác làm chuyện ta không thể làm được.

Có ba loại tâm Từ. Thứ nhất là lòng tốt (good-will). Chúng ta phải có lòng tốt đối với nhau. Đó là điều kiện tiên quyết để sống với nhau. Nếu chúng ta không tốt với nhau, ta không thể cùng ngồi thiền với nhau. Ta sẽ đứng dậy, đi lung tung. Sẽ làm ồn ào khi mọi người quanh ta cần yên tĩnh. Sẽ không có xứ sở nào tồn tại, nếu người ta không có lòng tốt với nhau. Bạn có nhận thấy chúng ta lệ thuộc vào nhau rất nhiều không? Chúng ta cậy vào người phát thư để có thông tin, nhờ người bán rau cải, nhờ nhà nông để có lương thực. Chúng ta lệ thuộc vào lòng tử tế của các nhà hàng xóm. Vì lòng tử tế là điều kiện tối cần cho cuộc sống, chúng ta không thể thiếu nó, không có nó cuộc sống sẽ đảo lộn.

Thứ hai là tình thân hữu. Ta cảm thấy gần gủi, thân thiện với một số người như bạn bè, hàng xóm, người quen biết, người giúp đỡ chúng ta. Sự thân thiện là một bước đến gần hơn với lòng Từ, nhưng chưa phải là lòng Từ thật sự. Nó làm chúng ta thấy gần gủi với người khác, cũng như đem người khác lại gần chúng ta, nhưng nó cũng có khía cạnh nguy hiểm của nó. Đó là lòng ưa thích. Thường ta nghĩ chẳng có gì xấu trong đó, nhưng trong sự ưa thích, đã có sự bám víu. Bám víu vào bạn bè ta, người quen, kẻ ban ơn cho ta, người thân chung quanh ta. Sự bám víu đó sẽ khiến ta đau khổ, sân hận, không phải đối với người thân của ta, nhưng đối với cái ý tưởng là ta sẽ phải mất họ. Sẽ sinh ra lòng sợ hãi, vì ta chỉ có thể sợ hãi những gì ta không ưa thích. Do đó tình thương thuần khiết không còn nữa. Vì chính sự bám víu đã làm hoen ố nó, làm cho nó không còn vẹn toàn. Không bao giờ ta có thể tìm được an vui với thứ tình cảm đó. Điều đó thường xảy ra trong các gia đình. Đó là lý do tại sao con người không thể tìm được hạnh phúc trong loại tình thương đó.

Tuy nhiên tình thương chúng ta dành cho người thân trong gia đình mình có thể dùng làm hạt giống để vun trồng lòng Từ. Rồi từ đó ta phát triển, nhân rộng nó lên. Chỉ có như thế tình cảm gia đình mới có ý nghĩa. Nếu không, nó trở thành nơi ươm mầm của tình cảm sân hận -như vẫn thường thấy trong các gia đình- như nước sôi trong chiếc ấm đậy nấp. Tình cảm gia đình cần được vun trồng trong tim ta vô điều kiện, không cứ phải là chồng tôi, vợ tôi, con gái tôi, con trai tôi, cậu tôi, mợ tôi. Đầy tính cách sở hữu của cái tôi. Nếu như chúng ta không có thể vượt lên và chuyển đổi những tình cảm đó thành vô điều kiện, thì tình cảm gia đình đã không được sử dụng đúng chức năng của nó. Trong trường hợp đó, nó được dùng để củng cố cái tôi, để đảm bảo cho sự sinh tồn. Nhưng sinh tồn không phải là một vấn đề, ta không nên phí thì giờ lo chuyện đó. Dù có bom nguyên tử hay không, chúng ta cũng không thể tồn tại mãi được, có phải không? Chỉ có một nơi chốn cho tất cả chúng ta, nơi mọi người cuối cùng rồi sẽ hội ngộ. 
Tình bằng hữu cũng đưa đến sự bám víu, dính mắc. Ta bám víu vào bạn bè. Sợ mất họ. Ta tốt với bạn bè vì muốn họ mãi là bạn mình. Nhưng nếu họ đối xử trả lại không được tốt, ta lập tức nghĩ xem có nên tiếp tục làm bạn với họ không. Ta đòi hỏi ở họ một sự thân thiết, lo lắng, quan tâm trả lại. Giống như kinh doanh thương mại. Một sự trao đổi sòng phẳng. Đó là điều hầu như tất cả chúng ta đều làm, đến nổi ta chẳng bao giờ để ý đến. Đối với bạn bè thì thế, đối với gia đình, chúng ta còn đòi hỏi hơn thế nữa. Nếu người thân ta không thương trả lại, ta hờn tủi, thất vọng, trầm uất. Nếu họ bỏ rơi ta, tình thương trong ta cạn kiệt. Thật là kỳ lạ, khi tình thương chỉ giới hạn trong một nhóm người.

 Tình thương không thể ẩn tiềm trong con người. Con người chỉ là một đãy xương bọc da. Làm sao có thể tìm thấy tình thương trong đó. Nhưng đó là bi kịch của bao người. Romeo và Juliet, Cuốn Theo Chiều Gió. . . là những bi kịch sân khấu về người nầy ra đi vì người kia không yêu mình, hay chia tay nhau bằng cái chết. Con người trước sau gì cũng phải xa nhau, qua cái chết hay qua sự thay đổi tình cảm, tư tưởng. Họ cần chi phải hành động như thế. Làm sao tình yêu có thể ẩn tiềm trong những người như thế?

 Tình thương tiềm ẩn trong các cảm xúc. Nếu ta không sử dụng tình cảm gia đình để làm nẩy nở thêm cảm xúc nầy, ta sẽ bị mất thăng bằng khi người ta thương yêu, bám víu vào biến mất đi vì lý do nào đó. Mục đích chính của tình cảm gia đình là để giúp ta biết thể nào là cảm xúc thương yêu, và từ đó nhân rộng ra.

 Phát triển tâm Từ không phải bằng cách dự một lớp 10 ngày về thiền hay nghe thuyết pháp về lòng Từ là đủ. Chúng ta không thể mở tắt tình cảm, lý trí cũa mình như tắt mở một bóng đèn. Ta cần tập luyện có phương pháp một cách kiên nhẫn và với lòng quyết tâm.

 Trái tim ta cần được rèn luyện để yêu thương vì nó không phải được tạo ra để lúc nào cũng tràn đầy lòng thương yêu. Nó có thể yêu mà cũng có thể ghét. Nó chứa đầy ý xấu, sân si, sợ hãi cũng như tình thương. Nhưng nếu như ta không làm giảm bớt sự hận thù và phát triển thêm tình thương bằng cách thay đổi cách cư xử của ta trong đời sống hằng ngày, tâm ta sẽ không thể an lạc, sự an lạc mà Từ tâm có thể mang đến cho ta.

 Khi trong ta đầy tình thương -loại tình thương không có điều kiện đối với tha nhân- thì ta tràn đầy an lạc. Khi ta có thể làm chủ được các hành động của mình. Ta trở nên tự tin. Không sợ hãi điều gì. Ta tự biết mình đã được rèn luyện đến độ sẽ không thể có một phản ứng giận dữ, ghen ghét, dù nhỏ đến đâu có thể xảy ra để làm ta mất đi sự bình yên. Đó là kết quả đầu tiên và hoàn thiện nhất mà ta có thể có được do đã ươm trồng lòng Từ trong tim ta. 

 Quan trọng hơn cả là tình thương đó đã được vun trồng dành cho những kẻ không ‘đáng thương’ chút nào. Đó chính là cơ hội để chúng ta thực tập hầu thay đổi con tim và lý trí của mình. Chúng ta ai không từng biết một đôi người ‘khó thương’, nhưng hãy coi họ là người giúp ta tự rèn luyện tâm. Sau khi chuyện đã rồi, nhìn lại cũng là dễ chấp nhận, nhưng ngay lúc ta phải đối mặt với người đó thì tất cả những tình cảm tiêu cực dấy lên trong ta: ghét, giận, biện hộ cho thái độ giận ghét của mình, v..v... Đó đúng là lúc ta cần phải sử dụng tình thương của mình. Đúng khi ta đang sân si.

 Đừng bỏ lỡ những cơ hội đó. Hãy mang tình thương đến với mọi người, dù là người ta ghét hay ta thương. Mỗi người ta tiếp xúc đều đem lại cho ta những cơ hội để học tập, thực hành lòng Từ, bất kể người đó là ai. Không kể họ nói gì, không cần họ có quan tâm đến bạn hay không, hay chính họ có lòng từ hay không. Không có gì đáng kể. Cái đáng kể là những gì đang xảy ra trong lòng bạn, và đó là điều duy nhất bạn cần nhớ tới. “Nếu trong lòng tôi chỉ có tình thương, lòng thương xót, chấp nhận; nếu tôi có thể dẹp bỏ sân si trong lòng, thì tôi đã đi được những bước đến gần hơn với đạo Pháp”. Giáo lý Đức Phật dạy cần phải được hiểu thấu đáo, rồi đem áp dụng, thể hiện chúng trong cuộc sống của chúng ta. 

 Ai cũng có cơ hội để sửa đổi các cách ứng xử của mình với người khác. Chúng ta luôn tiếp xúc, trao đổi với người khác, và lúc nào cũng sẽ có người không đồng ý với chúng ta. Khi đó nếu chúng ta làm thinh, không thèm trả lời, thì đó không phải là phản ứng của lòng Từ. Trái lại nó chỉ đem lại sân hận, bất mãn, lo âu, rồi dẫn đến bất cần, lạnh nhạt. Tất cả những thứ đó không ích lợi gì và cũng chẳng giúp chúng ta thanh tịnh được. Chỉ khi nào ta có thể hành xử với trái tim đầy tình thương, ta mới tìm thấy được sự an lạc, bình an với chính mình. 

 Phật đã nói về 11 điều lợi ích của lòng Từ. Ba điều đầu tiên là: “Ngủ ngon, không ác mộng và tĩnh giấc sảng khoái”. Nếu ai bị mất ngủ, bạn có thể đoán là ít nhiều họ đã thiếu lòng từ, và thuốc ngủ khó thể chữa được bịnh cho họ. Nhưng lòng Từ có thể giúp họ dễ ngủ. Và vì tiềm thức không có gì bứt rứt nên không có ác mộng, không ác mộng thì thức dậy cũng sảng khoái như khi họ lên giường ngủ, đó chính là nhờ họ có lòng từ, lòng nhân ái đối với tất cả mọi người.

 Một cách ứng dụng là trước khi đi ngủ, chúng ta thử làm một bảng cân đối (balance sheet) -bằng ý nghĩ hay viết xuống trên giấy. Chia tờ giấy làm hai cột: Hôm nay tôi đối xử tử tế với người khác được bao nhiêu lần? Cột bên kia ghi: Bao nhiêu lần tôi cảm thấy giận dữ, đau đớn, sợ hãi, bức rức khi đối đầu với người khác? Rồi cộng lại hai cột. Nếu cột tiêu cực nhiều hơn tích cực, thì ta cần phải tu sửa. Giống như người bán hàng kiểm tra hàng hoá của mình, những món hàng không ai mua, tất nhiên phải đem trả lại.

 Đó là phương cách tập luyện. Không có gì là bẩm sinh, dù tánh xấu, hay tánh tốt. Ta phải luôn luôn huân tập sửa đổi bản thân cho đến khi tất cả những ô uế ở thân tâm đều được tẩy sạch. Nhưng không phải vì nhờ ai cũng tốt. Không. Nếu ai cũng tốt, mọi người đều đang ở cõi Trời hết cả rồi. Đâu phải có mặt ở đây làm gì. Đây là cõi thứ năm tính từ dưới lên trong 31 cõi. Thữ nghĩ xem, chúng ta đang ở cõi thứ năm trong ba mươi mốt cõi, cũng khó thể mong đợi gì hơn ở con người trong cõi ấy? 

 Chúng ta có rất nhiều điều phải học trong cõi nầy, và có lẻ mục đích của cõi nầy chính là thế, để con người có cơ hội rèn luyện mình thêm. Không phải để chúng ta tìm kiếm sự thoải mái, tiền bạc, của cải, sở hữu. Cuộc đời chính là một trường học, đây là bài học quan trọng nhất, bài học để giúp trái tim ta thêm bao la. Không thể có bài học nào quan trọng hơn. Giống như trong một khu vườn, khi cỏ dại mọc quanh một khóm hoa hồng. Thì bao nhiêu phân bón cho hoa hồng đều vô ích, hồng sẽ không thể ra hoa, con người sẽ chẳng được ngữi mùi hương của hoa. Dần dần cỏ dại sẽ phủ trùm lên hoa. Trái tim ta cũng thế. Khóm hoa hồng là lòng Từ đang được ươm trồng. Nếu chúng ta không nhổ cỏ dại để cây được ra hoa, tỏa hương thì dần dần cây hoa Từ cũng tàn lụi. Cỏ dại chính là lòng sân si của chúng ta.

 Phần đông chúng ta đều đi tìm người yêu thương mình. Cũng có người tìm được một đôi kẻ yêu thương họ và họ có thể thương trả lại. Nhưng có biết bao kẻ xấu số khác không thể tìm được ai. Họ trở nên cay đằng, hờn tủi. Trong khi mọi việc đáng lý phải là ngược lại. Vì nếu chúng ta là người đầy lòng thương đối với mọi người thì sẽ có bao nhiêu người đến với chúng ta, vì có ai mà không muốn được yêu thương. Được người khác thương yêu không có nghĩa là ta cũng đầy tình thương. Chính kẻ yêu ta mới có tình cảm thương yêu. Trong khi có thể ta chẳng có cảm giác gì cả, ngoài lòng thỏa mãn là đã có người thấy ta dễ thương. Điều đó chỉ làm cái Tôi của chúng ta thêm lớn. Trong khi yêu thương người khác thì cái Tôi của ta nhỏ bé lại.

 Tình thương của ta càng bao la, ta càng có thể yêu thương nhiều người, cũng như được nhiều người yêu thương lại. Càng cho bao nhiêu, thì ta lại càng đưọc bấy nhiêu. Đó là phép tính cân đối đơn giản nhưng ít có ai thấy ra điều đó. Ai cũng đi kiếm thêm người yêu mình, nhưng không muốn ban phát tình thương cho ai cả. Điều đó thật không tưỡng. Thật nghịch lý, nhung trong đời sống của ta có biết bao điều nghịch lý.

 Đây cũng là điều Đức Phật đã nói trong 11 điều lợi ích “Ta được con người và muôn loài yêu thương”. Nếu ta ban phát tình thương đến cho người khác thì tự họ sẽ tìm đến với ta. Không thiếu người yêu thương ta. Ta ban phát cho người khác tình thương không phải vì ta muốn cho, không phải vì họ cần, không phải vì họ đáng để cho, nhưng vì trái tim ta đã được rèn luyện để làm như thế. Giống như người ta được rèn luyện về toán. Khi những con số được đưa cho họ, họ sẽ tổng cộng chúng lại nếu họ muốn biết tổng số. Không có cách gì khác hơn. Cũng thế, nếu trái tim ta đã được rèn luyện để yêu thương thì nó sẽ yêu thương vô điều kiện.
 Chắc sẽ có người lên tiếng phản đối rằng: “Nếu người khác cộc cằn, thô lổ với mình, mà mình đối xử với họ đầy tình thương, họ sẽ lợi dụng ta sao?” Nếu người khác có làm như thế -điều đó có thể xảy ra lắm, vì bản tính người đời là thế- nhưng đó là nghiệp ác của họ có phải không? Trong khi người tử tế không có gì để mất cả. Làm sao bạn có thể mất được tình thương vẫn đầy ấp trong tim mình? Nếu có bị lợi dụng, thì đó cũng là cơ hội để ta thử kiểm chứng lại trái tim mình xem nó đã được tôi luyện đến bực nào -xem chính mình có trở nên hờn giận hay vẫn có thể tiếp tục đối xữ tốt với kẻ xấu đó. Là dịp để ta xét soi mình có hành động đúng không? Trong tình thương có cả sự quan tâm đến người khác. Do đó một kẻ lợi dụng không thể có tình thương. Không nên sợ tình thương làm mình có vẻ yếu đuối, vì tình thương yêu thật sự chỉ làm con người trở nên mạnh mẽ hơn, không phải yếu đuối. Một người không có gì ngoài tình cảm thương yêu sẽ luôn cảm thấy an ổn, hòan tòan tự tin vì người đó biết rằng không có gì có thể lay chuyển được tình cảm của họ. Tình thương vô điều kiện tăng thêm sức mạnh cho con người, không phải sự yếu đuối. Nhưng nếu tình thương đi đôi với đam mê như người ta vẫn thường mê lầm, thì tình thương lúc đó sẽ làm con người yếu đuối, vì họ trở nên bám víu, ích kỷ. Trong khi nếu tình thương đến từ trái tim thì tình cảm đó vũng bền hơn đá.
 Một điều lợi ích khác của lòng Từ là nó giúp ta dễ nhiếp tâm. Đó là lý do tại sao ta nên bắt đầu một buổi ngồi thiền với những ý tưởng tốt đẹp về chính mình. Tâm không thể trụ nếu không có ba điều căn bản: sự rộng lương, đạo đức và lòng từ. Đó là ba cột trụ của thiền, giúp ta thực tập thiền. Lòng Từ, phát xuất từ trái tim, không thể thiếu khi ta ngồi thiền vì tình cảm ấy đem lại cho ta sự bình an, tĩnh lặng trong tâm. Nếu thiếu điều đó, ta cần thực tập chú tâm vào Từ tâm trước mỗi buổi ngồi thiền để pháp triển lòng Từ trong ta.

 Ta không thể thương yêu người khác nếu trước tiên ta không biết yêu thương chính mình. Nhưng không phải bằng cách phụng sự nó. Tìm đủ cách để cho nó được êm ấm, thoải mái, không được có một con muổi ở bên cạnh, đầy đủ thức ăn mà ta ưa thích. Đó không phải là thương yêu mà là phục dịch. Giống như tình thương của người mẹ dành cho con của mình phải sáng suốt. Nếu người mẹ chỉ biết cưng chiều đứa trẻ, thì nó và cả mẹ nó sẽ phải trả giá cho sự cưng chiều đó. Nhưng nếu người mẹ yêu thương con thật sự, bà sẽ không nuông chiều nó thái quá. Bà sẽ dạy con với lòng thương và trí sáng suốt, uốn nắn tánh tính nó. Đó chính là điều ta phải làm đối với bản thân ta. Vì thương chính mình, ta phải bắt mình tuân theo một số điều lệ hành động. Thực hành thiền là một cách thương yêu mình.

 Mức độ định tĩnh mà ta có thể đạt được trong lúc tọa thiền tùy thuộc vào lòng Từ trong ta. Đồng thời cũng tùy thuộc vào sự thực tập. Nếu thiếu thực tập, lòng Từ khó thể giúp cho chúng ta đạt được định.

 “Da dẻ hồng hào”. Có nghĩa là trên gương mặt ta biểu lộ sự an bình. Không có thứ thuốc sửa sắc đẹp nào có thể sánh kịp. Đó là nét đẹp từ bên trong. Người trẻ tuổi có thể chỉ có cái đẹp bề ngoài, nhưng trống rỗng bên trong. Nếu quan sát, người ta cũng dễ dàng nhận được vẻ đẹp toát ra bên trong. Phật thường được tả như thế. Có người chỉ cần nhìn thấy Phật một lần, đi trên đường là đã phát sinh lòng kính yêu Ngài, muốn được theo Ngài để trở thành đệ tử của Ngài. Có lần Rahula, con trai của Ngài, tỏ ra hãnh diện vì được giống Ngài. Phật liền quở dạy: “Phải coi tất cả hình tướng bề ngoài như thế nầy: Đây không phải là của tôi, không phải là tôi, tất cả chỉ là giả tướng”.

 Một điều lợi ích nữa của Từ tâm là “Lửa, thuốc độc, làn tên không thể hại tới ta”. Ngày nay người ta không dùng tên nữa mà dùng súng đạn, dùi cui; còn lửa và thuốc độc muôn thưở vẫn là những thứ dùng để tấn công. Nói thế không có nghĩa là ta trở nên bất khả xâm phạm, nhưng những người đầy từ tâm hiếm khi rơi vào những hoàn cảnh đó. Và dù có lâm vào những hoàn cảnh như thế, lòng họ cũng không hề bị xao xuyến. Của cải họ có thể bị hao hụt, nhưng trái tim của họ thì không. Trái tim không thể bị khuất phục khi trái tim chỉ có tình thương, không còn lòng hờn ghét.

 “Ta sẽ được chết bình an”. Tất cả chúng ta ai rồi cũng chết. Giờ phút lìa khỏi đời rất quan trọng, vì đó chính là giây phút của tái sinh, đúng ra đó là ngày sinh nhật. Nhưng ta thường nói về cái chết với sự đau buồn, mất mát. Thực ra nếu ta có thể đón chờ cái chết với tỉnh giác, với từ tâm thì đó chính là ngày sinh tốt đẹp của ta. Tất cả đều không khác, trừ khi bạn là một A-la-hán. Thói quen suy tưởng, xúc cảm hằng ngày sẽ theo ta đến tận cuối đời, giây phút lâm chung. Các thói quen đó không thể thay đổi đột ngột. Vì thế nếu các thói quen đó xuất phát từ lòng Từ, thì ta sẽ rất tỉnh thức, không thấy sợ hãi, lòng đầy bình an và vững niềm tin. Giây phút lìa đời phải là giây phút tốt đẹp vì đó là bước khởi đầu của sự tái sinh. 

 Lòng Từ nuôi dưỡng trong tâm sẽ đem lại lợi ích cho chính chúng ta. Ai đó đã nói rất đúng. Từ tâm chính là lòng thương yêu chính mình. Đúng thế. Nhưng tình thương nầy không phải là tình thương tầm thường ích kỷ, mà nó là bàn đạp để đưa chúng ta đến cái đích cuối cùng: Vô Ngã. Thật thế khi trái tim ta càng có nhiều lòng từ, ta càng như thể không còn nghĩ đến chính bản thân mình, đến cái Tôi của mình. Và khi cái Tôi trở nên nhỏ bé hơn, thì tình thương yêu càng dễ phát triển hơn. Khi ta nghĩ đến người khác nhiều hơn, thì Ngã phải nhường chỗ cho họ trong trái tim. Dĩ nhiên họ là người được lợi nhưng đó chỉ là thứ yếu. Chỉ có ta mới có thể tự giải thoát cho chính mình. Ai cũng phải ra đi một mình. Nhưng nếu có những người bạn đồng hành cùng muốn đi theo con đường của ta, thì ta cũng mở rộng vòng tay đón mời họ, vì con đường, chuyến xe nầy hãy còn vằng vẻ làm sao.

 2. BI

 Người bạn thứ hai là Bi. Đối nghịch với Bi là sự ác độc. Đừng lầm Bi với lòng thương hại. Lòng thương hại dấy khởi khi ta cảm thấy tội nghiệp cho ai đó. Bi là khi chúng ta chia sẻ lòng xót thương với họ. Bi là cùng cảm thông với một người khác.

 Bi phát sinh khi ta cảm nhận được sự đau khổ, không như ý của người khác trong chính bản thân ta. Chỉ có như thế ta mới thực sự cảm thông được với người khác. Nếu không, ta sẽ tiếp tục sống với ảo tưỡng là đối với ta, mọi việc đều bình thường, chỉ có người khác là có vấn đề, là đau khổ. Nếu ta có thể nhận diện được tất cả những trạng thái bất như ý dồn dập xảy ra trong ta - sự không ưa thích và chán ghét, hối hận và hờn trách, sợ hãi và lo lắng, căng thẳng - thì ta hiểu rằng tất cả chúng ta đều cùng một số phận. Để khi người khác gặp chuyện khó khăn, ta có thể thông cảm với họ, vì ta biết rằng chính mình cũng có khổ đau. 

 Sự cảm thông (Bi) là bước đầu dẫn đến tình thương. Nếu ta có thể thực sự dấy lên trong lòng một cảm xúc chân thành cho ai đó, cảm thông sâu sắc nỗikhó khăn của họ, những gì họ phải hứng chịu, thì sự thương cảm đối với họ cũng tự nhiên đến trong lòng ta.

 Tuy nhiên, ta không nên có sự phân biệt giữa người nầy, kẻ kia theo thói thường tình. Thường chúng ta dễ cảm thông với những người có liên hệ gì đó với ta. Như người đồng tôn giáo, cùng nhóm bạn, đồng quê hương, láng giềng hay gì gì đó mà ta cũng quan tâm đến. Một cái gì đó để ta có thể nói ‘của tôi’, thì ta chọn lựa cái đó. Sự lựa chọn nầy đẩy con người ra xa nhau, và dầu họ đi đến đâu trên thế giới nầy, tinh thần chia rẽ cũng đi theo đến đó, khiến con người xâu xé nhau.

 Sự chia rẽ nầy do quan niệm chấp ‘Ngã’ mà ra. Đây là cái Tôi, tôi phải bảo vệ cái Tôi của mình. Cái Tôi bị đe doạ. Cái Tôi thường xuyên cảm thấy bị đe dọa, đến nổi ‘Tôi’ cũng không biết rõ về mình. Không thật sự biết ‘cái Tôi’ nầy là gì. Tất cả cái ta biết là sự đe dọa đến cái Tôi, làm tôi sợ hãi. Nơi nào có sự sợ hãi, nơi đó không có cảm thông (bi) vì sợ hãi xuất phát từ sân hận. Chúng ta chỉ sợ những gì ta ghét. Những gì ta ưa thích, ta không sợ. Trái tim nào càng có nhiều sự sợ hãi, trái tim đó càng ít có sự đồng cảm (bi). Sợ hãi luôn núp dưới bóng của ‘Ngã’. Một vì A-la-hán hòan toàn không có sự sợ hãi. Không có sự sợ hãi ở ngươì đã giác ngộ. Không có sự sợ hãi, vì không có gì để được hay mất. Tất cả đều trở thành tầm thường, không đáng kể. Càng nhiều Ngã chấp, sự sợ hãi càng tăng. Sợ bóng tối, sợ trộm cướp, sợ thời tiết xấu, sợ tương lai, đủ thứ sợ. Sự sợ hãi xuất phát từ lòng muốn bảo vệ ‘cái Tôi’ giả tạo. Và càng muốn bảo vệ cái Tôi bao nhiêu, lòng cảm thông (bi) càng bị giới hạn.

 Tuy nhiên sự cảm thông dễ trở thành những lời nói ở đầu môi. Có thể ta không thật lòng. Phần lớn chúng ta đều rất giỏi ‘đóng kịch’. Một lần Pessa, con của người dạy voi, đến gặp Phật và nói với Ngài: “Con chẳng gặp khó khăn gì với lũ voi. Hình như chúng ‘nghĩ sao, làm vậy. Khi chúng có một ý định gì đó, con hiểu ngay, và chúng làm đúng theo ý định đó. Nhưng sao con người khó hiểu quá. Họ nói một đường và làm một nẻo”. Phật nói: “Đúng vậy. Voi sống trong rừng cây, còn con người thì sống trong ‘rừng’ tâm tưỡng”. Con người nói một điều, nhưng ý nghĩ, hành động lại khác. Tệ hại hơn nữa, là ta không hề ý thức chuyện đó là không tốt. Ta tưỡng đó là việc phải làm. Là luật ứng xữ, phong tục, truyền thống, nên chúng ta không xét lại kỹ lưỡng ý tứ, lời nói và hành động của mình.

 Chỉ khi nào ta soi lại mình một cách thấu đáo, với lòng thiết tha, thành khẩn, ta mới có thể thật sự hiểu được những điều Phật dạy. Phật đã giảng nghĩa rõ ràng về bản tánh của chúng ta. Ngoài mặt, tất cả chúng ta đều như khác nhau, nhưng bên trong tất cả đều giống nhau. Chúng ta giống như từ một khuôn ra, chạy đuổi theo cùng thứ, đi theo cùng con đường. Sự khác nhau chúng ta thấy chỉ là giả tạo, tùy thuộc vào cái nhìn của bản Ngã.

 Tất cả những người có ý thức đều than phiền về chiến tranh giữa các quốc gia. Ai cũng muốn nhìn thấy thế giới được hòa bình. Dĩ nhiên là điều đó không thể có. Ở thế kỷ nầy hình như lúc nào cũng có chiến tranh ở nơi nầy, nơi khác. Các xứ sở đua nhau thành lập những hàng phòng thủ kiên cố, đổ vào đó bao nhiêu là năng lực, tiền bạc và con người. Chính các hệ thống phòng thủ nầy biến thành hệ thống tấn công ngay lập tức nếu như có ai tuyên bố lời nào không thân thiện hay hơi có vẻ đụng chạm đến không phận hay hải phận của họ. Hành động nầy được giải thích, biện hộ bằng “Chúng ta phải bảo bệ biên giới của mình, để bảo vệ dân cư ở đó”. Việc bãi bỏ vũ khí chỉ là ước vọng, một lời cầu nguyện, không phải là thực tế. Tại vì sao? Vì việc bãi bỏ vũ khí phải bắt đầu từ trái tim của mọi người, nếu không việc bãi bỏ vũ khí đại trà sẽ không thể nào xảy ra.

 Việc phòng thủ và tấn công nói rộng ra luôn xảy ra trong chính mỗi chúng ta. Chúng ta không ngừng bảo vệ cái Tôi của mình. Nếu ai đó nhìn chúng ta một cách không thân thiện, hoặc tỏ ra không biết ơn, không thương yêu ta giống như ta mong muốn, hay trách cứ chúng ta điều gì, thì sự phòng thủ đó biến thành sự tấn công. Lý luận rằng ta phải bảo vệ người nầy, “xứ sở” nọ, là bảo vệ ‘cái Tôi’, để bảo vệ dân cư, là bảo vệ cái Ngã của mình. Vì hầu hết mọi người đếu hành động như thế, nên các quốc gia cũng làm như thế. Không thể hy vọng có sự thay đổi xảy ra trừ khi mỗi cá nhân biết tự sửa đổi. Do đó, mỗi người chúng ta phải tự phấn đấu để tìm hòa bình cho chính nội tâm mình. Điều đó có thể xảy ra nếu mỗi ‘cái Tôi’ có thể thu nhỏ lại bớt, và vấn đề Ngã chấp chỉ có thể giảm thiểu khi chúng ta có thể thật lòng soi rọi lại mình.

 Một cách để làm việc đó là đặt tên cho các tư tưởng của mình (labelling). Có thế ta mới khám phá ra các tư tưởng xấu của mình, từ đó bớt quan trọng hóa mình, hay tư tưởng của mình. Đó là hành Thiền.

 Một cách khác để soi mình cặn kẻ là biết chấp nhận sự thật khi trong ta dấy lên những tư tưởng xấu và không thể đè nén chúng. Phải nhận ra rằng con người luôn khao khát thỗ mãn các ngũ dục. Sự thành thật cặn kẻ nầy giúp cho cái Tôi của chúng ta bớt trương phồng lên. Khi ta làm được như thế, lòng cảm thông (bi) trở nên là một hiện thực -lòng cảm thông chân thật, không chỉ là lời nói đầu môi. Nói thì dễ thôi, ai cũng làm được điều đó. Từ 6 tuổi trở lên là đã có thể học thuộc lòng bài thiền quán về lòng Từ. Những lời nầy rất hay, nhưng thực sự chúng giúp đuợc gì cho ta? Sự lập đi lập lại những lời nầy khiến ta đánh mất xúc cảm ban đầu, trong khi ta sống tùy thuộc vào xúc cảm của mình. Đừng hiểu lầm rằng ta sống theo lý trí. Sự thật là mọi việc bắt đầu bằng xúc cảm, rồi phát sinh ra hành động. Sau cùng tiến trình tư tưởng mới xuất hiện để lý giải cho hành động của mình.

 Hiểu được cảm xúc của mình là một điều tối quan trọng. Đó là điều cơ bản. Làm sao chúng ta ‘tri thức’, biết thế nào là tình thương, lòng cảm thông nếu chúng ta không có những xúc cảm đó? Chúng ta có thể biết về chúng, nhưng làm sao thể hiện chúng, nếu ta không có xúc cảm đó? Giải thoát không phải là một ‘tri thức’, nó là một cảm xúc. 

 Lòng cảm thông (bi) là một tình cảm xuất phát từ trái tim, không cần có lý do hay điều kiện gì đặc biệt. Ta không cần phải đợi một dịp nào để cảm nhận được rằng ai đó đang phải đối mặt với một bi kịch trong đời hay cơ thể họ đang làm họ đau đớn. Nếu lòng cảm thông của ta phải được kích thích, gọi mời, thì lòng cảm thông không phải luôn luôn có mặt trong tim ta, mà lúc có lúc không, nhưng phần nhiều là không. Đó không phải là một trái tim đầy cảm xúc. Một trái tim đầy cảm xúc -cũng giống như một trái tim đầy tình thương -luôn đầy thương cảm vì biết rằng ai cũng có nỗi khổ. Sự đau khổ đã được nhắc đến trong đế đầu tiên của tứ đế (khổ đế) của Phật pháp. Không có ai thoát khỏi sự đau khổ vì cuộc đời -sự hiện hữu của ta- chính là sự khổ đau. Nhưng nó không phải là bi kịch. Nó chỉ có nghĩa là vạn pháp trên đời đều ẩn chứa trong đó sự xung đột, bất như ý, bực dọc, lòng mong muốn được có nhiều hơn, muốn không bị mất mát, thay đổi hay hoại diệt. Trừ các vị A-la-hán, bản tánh con người không phải dễ dàng buông xả. Vì thế lòng cảm thông (bi) cần luôn có mặt, không đợi đến khi người khác bị cảnh long đong.

 Nếu quá chấp Ngã, người ta khó thể cảm thông với người khác. Chấp Ngã là nguồn gốc của bao vấn đề giữa con người với nhau. Vì nếu ai cũng bận rộn lo cho cái Tôi của mình, thì làm sao còn cảm xúc cho người khác. Thường người quan tâm đến kẻ khác bị coi là cá biệt, không giống ai. Thật đáng tiếc vì chính người có lòng thương, và cảm thông đối với người khác mới thật là người hạnh phúc. Tuy nhiên phần lớn chúng ta thiếu lòng từ bi. Hạnh phúc thực sự khó tìm thấy ở mọi nơi. Trong khi chính hai tình cảm nầy (từ và bi) đem lại cho ta niềm vui, vì chúng giúp ta bớt nghĩ đến cái Tôi của mình, bớt chấp Ngã. Người mà quá chấp Ngã, không thể có niềm vui vì họ không bao giờ mãn nguyện trong việc thỏa mãn cái Tôi của mình. Không bao giờ ta có thể giải quyết hết những vấn đề của mình. Vì hết điều nầy thì đã có điều khác dấy lên. Nhưng khi ta buông bỏ nó, mà hướng tất cả chú tâm vào sự không toại nguyện, đau khổ mà mọi chúng sinh đều phải đối mặt, ta sẽ nhận ra được cái khổ của tất cả nhân loại, lúc đó những nỗi niềm riêng của chúng ta trở thành quá nhỏ mọn, không đáng kể. Nỗiđau của ta chỉ là một phần của sự hiện hữu chung. Lúc đó lòng cảm thương cho chính mình và cho tha nhân sẽ phát sinh. Và quyết tâm để tận diệt mọi khổ đau sẽ được thêm sức mạnh cần thiết để làm điều đó.

 3. HỈ

 Người bạn kế tiếp trong bốn người bạn của ta là sự biết chia sẻ niềm vui với người khác hay là hỉ. Đối nghịch với hỉ là lòng ganh tỵ. Chớ lầm hỉ với sự đãi bôi, giả đạo đức, nói một điều mà nghĩ một điều. Thí dụ, nếu có ai được may mắn gì đó, ta phải chúc mừng, nhưng trong lòng không có tình cảm đó, hay tệ hại hơn nói một điều mà nghĩ một điều khác. Giống như là “Sao tôi không là người may mắn đó? Sao lúc nào cũng là người khác?”.

 Chia sẻ niềm vui với người khác là liều thuốc nhiệm mầu chữa bịnh trầm cảm. Ai đang vướng chứng bịnh nầy là vì họ không biết chia sẻ niềm vui với kẻ khác, họ thiếu hỉ tính. Trong cuộc đời ta không có nhiều dịp để mãn nguyện, vui mừng, nhưng nếu ta biết chia sẻ niềm vui của kẻ khác thì chắc chắn là ta sẽ có nhiều cơ hội để hạnh phúc hơn.

 Ta có thể chia sẻ niềm vui với những người có khả năng. Nhiều người khó chấp nhận sự tài giỏi của người khác. Họ sẽ miễn cưỡng nói rằng: “Ừ, cho là người đó có thể làm được như vậy đi, nhưng mà...” và lập tức chê bai thay vì chia sẻ niềm vui với người tài giỏi hơn mình. Người khác có thể làm bao nhiêu việc giỏi hơn ta. Người biết hát, người biết vẽ, biết nhảy, biết phiên dịch, người có thể làm ra tiền, người có thể sống không cần đến nó. Mọi người đều có một khả năng gì đó. Ta sẽ có biết bao niềm vui nếu biết chia sẻ với họ.

 Chia sẻ niềm vui với người khác cũng là một cách tạo nghiệp lành. Tôi đã ở một làng nhỏ nơi có phong tục là khi có chuyện gì vui trong làng, người ta lại ra chùa đánh chuông báo với mọi người. Được mùa, gả vợ gả chồng cho con, xuất viện, làm ăn tốt, sửa được nhà... bất cứ điều gì có thể làm cho người ta vui mừng. Khi tiếng chuông vang lên, mọi người đều nhìn ra hướng đó mà nói lời chúc mừng. Người đánh chuông đã tạo nghiệp lành bằng cách làm cho mọi người có thể chia sẻ niềm vui với mình. Những người kia cũng tạo được nghiệp lành vì đã chia sẻ niềm vui với người khác.

 Nhiều nơi khác không có phong tục đó. Ta phải tự rung tiếng chuông hoan hỉ trong lòng mình. Đó là một điều rất quan trọng để nhớ, phải nhớ những điều Phật dạy trong mọi hoàn cảnh, để thực hành chúng. Không phải chỉ nhớ trong một hoàn cảnh nào đó, hay khi có tai biến, nhưng phải luôn luôn nhớ đến chúng vì đó là bí quyết để sống một cuộc đời hạnh phúc và bình an. Phật đã nói: “Ta chỉ dạy một điều, là đau khổ, và đọan diệt khổ”. Phật đã đại nguyện thệ như thế và đã thực hiện được những điều đó. Đó là Phật pháp - đoạn diệt khổ. Ta phải luôn nhớ chấp Ngã là nguồn gốc của mọi vấn đề và cố gắng sửa đổi, nếu không là ta đã quên lời Phật dạy. Những lời đó phải thường trú trong tâm trí chúng ta vì lợi ích của chúng không chỉ là lợi ích nhất thời.

 4. XẢ

 Người bạn cuối cùng của chúng ta là lòng an nhiên tự tại (xả), một trong những tình cảm cao thượng nhất. Đối nghịch với nó là sự lo lắng, bồn chồn. Nhưng chớ lầm xả với sự thờ ơ, lãng đạm. Thờ ơ là trạng thái tâm hồn nói rằng “Tôi chẳng quan tâm khi việc đó chẳng xảy ra cho tôi hay gia đình tôi. Tôi không muốn biết chuyện đó. Tôi không muốn phải bận tâm vì nó”. Sự thờ ơ là thái độ lạnh nhạt, xa lánh. Thái độ đó không dung chứa tình thương, lòng từ. Ta chỉ muốn bảo vệ riêng cho mình, vì thế, ta trở nên thờ ơ, lãnh đạm.

 Trong khi xả, hay sự bình an tự tại dựa trên trí tuệ, dựa trên sự hiểu biết rằng mọi sự vật đều thay đổi, đều hòan toàn vô thường. Dầu chuyện gì xảy ra, rồi nó cũng qua đi. Cái gì sẽ xảy đến cũng chẳng quan trọng gì. Cánh cửa đưa đến bất tử qua vô thường là cánh cửa không tên, có nghĩa là không có gì quan trọng cả. Trong cả vũ trụ nầy, không có gì quan trọng cả trừ sự giải thoát. Vì vậy, sự thanh thản, an nhiên (xả) phải xuất phát từ ý thức nội tâm rằng tất cả mọi vật đều thay đổi, dù cho chuyện gì đã xảy ra, tốt hay xấu, cũng không làm ta vui mừng hay buồn bã. Nó chỉ xảy ra. Chúng ta chỉ có mặt ở nơi nầy trong 60, 70 hay 80 năm. Vậy tất cả những lo lắng, chộn rộn là cho cái gì? Có gì để nắm giữ? Có gì để mong cầu? Sự việc chỉ xảy ra.

 Vì muốn bảo vệ cái Tôi mà ta không có tâm xả, hoàn toàn an nhiên tự tại. Chúng ta sợ rằng “Tôi có thể bị nguy hiểm, việc nầy việc nọ sắp ảnh hưởng tới ‘tôi’, nên cuộc sống ta không yên ổn”. Sự yên ổn mà mọi người theo đuổi chỉ là viển vong. Aûo tưỡng. Không có sự yên ổn thật sự. Ai cũng phải đối mặt với cái chết. Tất cả những gì chúng ta sở hữu đều sẽ bị hủy diệt. Tất cả những người thương của ta đều sẽ chết, hoại diệt, bịnh hoạn, bỏ rơi ta, thay đổi tình cảm. . . . 

 Không có gì có thể yên ổn trong những điều kiện như thế. Sự xáo trộn, không an ổn phát sinh khi những việc không như ý xảy ra, là do ta ảo tưỡng rằng ta đã đánh mất cái gì đó rất quan trọng cho sự sống còn của mình. Hành động như thế là để bảo vệ cái Tôi của mình. Nhưng ngay chính sự sống còn của chúng ta cũng là ảo tưỡng vì có gì để bảo đảm rằng chúng ta sẽ luôn khỏe mạnh, luôn an toàn, bảo đảm.

 Để có được tâm xả không chỉ có quyết tâm muốn an nhiên tự tại là đủ. Quyết tâm là cần thiết, nhưng nó dễ đưa đến sự dồn nén. Chúng ta thường đè nén những tình cảm mãnh liệt của mình. Làm vậy cũng chẳng có ích lợi gì, vì lần lần những dồn nén cũng bị nổ tung. Ta dồn nén thứ nầy thì nó cũng phát ra thứ khác. Dồn nén có thể dẫn đến bịnh hoạn, trầm uất. Nếu ta không bị xáo trộn vì việc nầy thì cũng sẽ bị xáo trộn về việc khác.

 Sự an nhiên, hay tâm xả cần xuất phát từ bên trong. Khi được ươm trồng tốt, tâm xả là một trong những bảy yếu tố dẫn đến giác ngộ. Chỉ có các đấng Giác Ngộ mới có được tâm buông xả vô lượng. Nhưng nếu chúng ta không bắt đầu thực hành tâm buông xả ngay từ bây giờ, thì đến lúc nào ta mới tiến hơn, trưỡng thành hơn?

 Qua thiền định, ta có thể bắt đầu thấy được sự chộn rộn, thay đổi luôn luôn của tâm. Có ai nhớ được mình nghĩ gì trong 10 phút trước đây không? Trong kỳ ngồi thiền trước? Hay lần trước đó nữa? Tuyệt nhiên không. Ta không nhớ gì cả. Không giữ lại được ý nghĩ gì. Tất cả là thoáng chốc. Không phải vì ta đã có căn nhà hay người thân nào đó bên cạnh mình suốt ba mươi mấy năm nay mà ta nghĩ rằng ta có thể giữ họ mãi bên mình. Chỉ vì những thứ ấy đã ở bên ta một thời gian dài, ta tưỡng như các thứ ấy là vĩnh cữu. Nhưng những khi ngồi thiền ta có thể thấy là các tư tưởng của ta đến rồi đi, không bao giờ ở lại với ta. Do đó có gì đâu để lo phiền nếu như mọi vật đều thay đổi. Luôn đến, rồi đi.

 Lúc nào còn những chộn rộn đó là còn có một con người đằng sau đó. Trái tim còn nhịp thở, máu còn luân, tư tưởng, tình cảm còn thay đổi, các tế bào còn sinh diệt, thì ta còn sống. Khi tất cả ngưng lại, ta chỉ còn là một cái xác. Tất cả những thay đổi, bất ổn định chính là sự sống, vậy mà ta cứ cố làm cho mọi thứ vĩnh viễn, không thay đổi. Ta muốn chúng bất di dịch. Đây là Tôi, và tôi muốn tất cả đều biết như thế. Tôi có một cái tên và có một số người, một số của cải thuộc về tôi Tôi có những quan điểm và tôi muốn tất cả mọi người đều biết nha”thế”. Đó là sự gán ghép tính cách vĩnh viễn vào một con người. Tuy nhiên khi còn là con người, còn có những thay đổi, đểø cuối cùng nó sẽ biến đổi thành một xác chết. Lúc đó thì ta có thể bắt đầu lại tất cả.

 Để có được tâm xả, lòng thanh thản ta còn phải có những tánh tốt cơ bản khác. Như sự chấp nhận, chịu đựng. Nếu không biết chấp nhận, ta sẽ sinh ra khổ đau chính vì sự phản kháng của mình. Đối nghịch vời chấp nhận là phản kháng, chống đối, và làm như thế chỉ mang lại đau khổ. Như khi ta đẩy ngược lại với một lực gì tay ta sẽ đau. Nhưng nếu xuôi theo nó thì sẽ không đau. Chấp nhận sự việc như nó xảy ra sẽ đem lại thanh thản, an nhiên tự tại cho ta, và sự thanh thản đem an lạc lại cho ta.

 Tứ vô lượng tâm hay bốn trạng thái tình cảm vừa nêu trên (Từ, Bi, Hỉ, Xả) đem lại niềm vui trong lòng ta. Nếu ta biết vun trồng các tình cảm nầy đến một mức độ nào đó, ta sẽ cảm thấy tự tại, an bình, thoải mái vì ta nhận ra rằng cho dù thế giới có đảo điên, nghiêng ngả, ta không hề bị lay chuyển. Như Phật nói “Tôi không tranh chấp với thế gian. Chính thế gian tranh chấp với tôi”. 

 Thật là bình an, thanh thản!